Khuya lắm rồi, vừa đổi xong phiên gác
Mưa rào rào nằm ngoài không ngủ được
Nghe cuốc kêu hoài từ một đầm xa…
Mùa hạ sắp về nối tiếp những cơn mưa.
Chùm nhãn chín cành cao rạo rực
Sắp gặp nắng nhựa dồn nên nhãn thức
Ta cũng bồi hồi trong đêm bâng khuâng:
Ừ xa nhà đánh giặc đã hai năm
Đếm tháng đếm mùa bằng tên trận thắng.
Con của mẹ giữa lòng dân khôn lớn
Như cây giữa rừng chẳng ngại phong ba…
Nhớ lũ em giờ sơ tán nơi xa
Mưa này lội đường trơn đi học
Thương mỗi cây ngô gốc sắn quê nhà
Phải lo lắng từng cơn dông trận bão.
Đùm bọc nhau đôi miền chiến đấu
Mấy chục năm rồi tay súng chẳng ngơi…
Cuốc cuốc, con chim của nỗi bồi hồi
Từng khắc khoải người xưa thương đất nước
Nay vẫy gọi cánh đồng chiêm thao thức
Bông lúa vàng hạt mẩy quẫy trong mưa
Ngoài kia đường dài lấp loáng đèn pha
Đẫm bùn nhão xe băng ra mặt trận
Người đi người đi như dòng sông vô tận
Áo ướt đầm, lòng cháy nỗi yêu nhau
Đồng đội ơi, đêm nay anh về đâu?
Lớn lên trong những năm đánh giặc
Lòng ta đẹp như là đất nước
Như gió vui rụng ngọn lá trên cành…
Từ nơi này mai đơn vị hành quân
Suốt mùa hạ, suốt tình yêu xứ sở
Với cây súng, với vần thơ viết dở
Với con đường rộng mở đến mai sau…
Như nhãn thơm thấm mát giọt mưa đầu
Như tia nắng sáng niềm tin giản dị,
Đất nhận lấy tâm hồn người lính trẻ
Đêm sâu này thức trắng với quê hương.
(4-1967)
In trong tập Hương cây (1968)
| DÀN Ý CHI TIẾT
1. Mở đoạn – Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả): Lưu Quang Vũ là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại với phong cách thơ gần gũi, giản dị mà thấm đượm tính triết lí. – Nêu ấn tượng chung về bài thơ: Thức với quê hương là một bài thơ hay, nói lên tâm sự của một người lính trẻ khi xa nhà, nói lên nỗi nhớ người thân, nhớ những gì gần gũi nhất nơi quê nhà; đồng thời thể hiện thái độ lạc quan và niềm tin yêu vào tương lai của đất nước. 2. Thân đoạn * Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp…) của bài thơ. – Mạch cảm xúc: Bài thơ mở ra trong không gian một đêm Khuya lắm rồi của cuối mùa xuân, khi người lính trẻ vừa đổi xong phiên gác, nằm nghe tiếng mưa không ngủ được. Lúc này, lắng nghe tiếng cuốc kêu vọng lại từ một đầm xa, anh thấy nhớ nhà, nhớ quê hương với những kỉ niệm gắn bó. + Khổ thơ thứ hai là sự nhớ nhung của chàng lính trẻ xa nhà đánh giặc đã hai năm/ + Khổ thơ thứ ba là sự bồi hồi nhung nhớ với hình bóng của những người thân yêu. Đó là nỗi nhớ lũ em giờ sơ tán nơi xa/ Mưa này lội đường trơn đi học; là nỗi nhớ nhung với những cảnh vật quen thuộc nơi quê nhà, từng gốc sắn bờ tre, từng bông lúa trĩu nặng; là nỗi thao thức trăn trở với những người đồng đội giống như mình khi theo những trận hành quân ra trận. + Khổ thơ cuối cùng bừng sáng sức mạnh của niềm tin, với thái độ lạc quan của người lính trẻ, khi mà Lòng ta đẹp như là đất nước; khi mà cầm chắc súng trong tay, với tâm hồn lạc quan và vần thơ viết dở, các anh sẵn sàng cống hiến thanh xuân cho đất nước. Khổ thơ cuối bài cũng làm sáng rõ nét độc đáo trong mạch cảm xúc của bài thơ; đó là sự đồng hiện của nỗi nhớ quê hương và suy ngẫm về đồng đội, về cuộc chiến đấu của dân tộc, về sự trưởng thành của chính mình những năm tháng đánh giặc. – Chủ đề: Bài thơ viết về tâm trạng của một chàng lính trẻ, về nỗi nhớ quê hương của anh trong những đêm khuya vắng khi xa nhà đi chiến đấu. Nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân gắn kết, hòa vào trong nỗi nhớ và tình yêu dành cho đất nước. Sự gắn kết giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước trong bài thơ giúp ta hiểu rằng, chính tình yêu dành cho những người thân yêu, cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn đã thôi thúc con người khát khao chiến đấu vì tự do cho đất nước. – Thông điệp: bài thơ là lời nhắc nhở những thế hệ sau hãy luôn trân trọng và biết ơn những người đã cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước, chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc. * Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung; nêu tác dụng của thể thơ tám chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ – Biện pháp nhân hóa Chùm nhãn chín cành cao rạo rực/ Sắp gặp nắng nhựa dồn nên nhãn thức khiến cho nỗi nhớ quê hương qua những cảnh vật gần gũi, thân thương của chàng lính trẻ thêm sinh động, gần gũi. Hàng loạt các sự vật đều được nhân hóa: từ mỗi cây ngô gốc sắn quê nhà/ lo lắng từng cơn dông trận bão cho đến con chim cuốc cuốc đã vẫy gọi cánh đồng chiêm thao thức, hay những bbông lúa vàng hạt mẩy quẫy trong mưa… khiến cho bài thơ thêm sinh động, vạn vật như cũng có hồn, quấn quýt nhớ mong và gắn bó với con người, với quê hương. – Biện pháp so sánh được sử dụng nhiều trong bài thơ: Như cây giữa rừng chẳng ngại phong ba…/ Lòng ta đẹp như là đất nước/ Như gió vui rụng ngọn lá trên cành… Như nhãn thơm thấm mát giọt mưa đầu/ Như tia nắng sáng niềm tin giản dị… vừa góp phần thể hiện tinh thần, ý chí của người lính trẻ; vừa thể hiện được tâm tư tình cảm, lòng yêu thương đất nước và niềm tin vào đất nước. Biện pháp so sánh đã góp phần làm tăng sự gợi hình gợi cảm cho diễn đạt, nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn lí tưởng và thái độ lạc quan của nhân vật trữ tình. – Thể thơ tự do với cách ngắt nhịp linh hoạt; lời thơ như lời kể, tâm tình khiến cho bài thơ thêm đặc sắc. 3. Kết đoạn – Khái quát cảm nghĩ về bài thơ: Bài thơ là lời tâm sự của một chàng lính trẻ, cũng là nói thay nỗi lòng của biết bao thanh niên như Lưu Quang Vũ, đã từ bỏ nghiệp bút nghiên với những vần thơ dang dở, sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân vì mục tiêu chung thống nhất đất nước, giành độc lập tự do cho dân tộc. Đọc bài thơ, ta càng thấy trân trọng các thế hệ cha anh đi trước; nhắc nhở mình phải sống sao cho xứng đáng với những cống hiến, những hi sinh của cha anh. |
BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT
Lưu Quang Vũ là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại với phong cách thơ gần gũi, giản dị mà thấm đượm tính triết lí. Thức với quê hương là một bài thơ hay của ông, nói lên tâm sự của một người lính trẻ khi xa nhà, nói lên nỗi nhớ người thân, nhớ những gì gần gũi nhất nơi quê nhà; đồng thời thể hiện thái độ lạc quan và niềm tin yêu vào tương lai của đất nước. Bài thơ mở ra trong không gian một đêm Khuya lắm rồi của cuối mùa xuân, khi người lính trẻ vừa đổi xong phiên gác, nằm nghe tiếng mưa không ngủ được. Lúc này, lắng nghe tiếng cuốc kêu vọng lại từ một đầm xa, anh thấy nhớ nhà, nhớ quê hương với những kỉ niệm gắn bó. Khổ thơ thứ hai là sự nhớ nhung của chàng lính trẻ xa nhà đánh giặc đã hai năm/ Đếm tháng đếm mùa bằng tên trận thắng. Từ sự bỡ ngỡ đầu tiên với quân ngũ, dần dần chàng lính trẻ đã làm quen với hoàn cảnh, đã giữa lòng dân khôn lớn mà chẳng ngại phong ba, giành được những chiến công để tự hào với mẹ. Có điều, nỗi nhớ nhà thì chẳng nguôi được trong những đêm mưa vắng lặng. Nỗi bồi hồi nhung nhớ với hình bóng của những người thân yêu được thể hiện trong khổ thơ thứ ba. Đó là nỗi nhớ lũ em giờ sơ tán nơi xa/ Mưa này lội đường trơn đi học; là nỗi nhớ nhung với những cảnh vật quen thuộc nơi quê nhà, từng gốc sắn bờ tre, từng bông lúa trĩu nặng; là nỗi thao thức trăn trở với những người đồng đội giống như mình khi theo những trận hành quân ra trận. Khổ thơ cuối cùng bừng sáng sức mạnh của niềm tin, với thái độ lạc quan của người lính trẻ, khi mà Lòng ta đẹp như là đất nước; khi mà cầm chắc súng trong tay, với tâm hồn lạc quan và vần thơ viết dở, các anh sẵn sàng cống hiến thanh xuân cho đất nước. Khổ thơ cuối bài cũng làm sáng rõ nét độc đáo trong mạch cảm xúc của bài thơ; đó là sự đồng hiện của nỗi nhớ quê hương và suy ngẫm về đồng đội, về cuộc chiến đấu của dân tộc, về sự trưởng thành của chính mình những năm tháng đánh giặc. Bài thơ viết về tâm trạng của một chàng lính trẻ, về nỗi nhớ quê hương của anh trong những đêm khuya vắng khi xa nhà đi chiến đấu. Nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân gắn kết, hòa vào trong nỗi nhớ và tình yêu dành cho đất nước. Sự gắn kết giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước trong bài thơ giúp ta hiểu rằng, chính tình yêu dành cho những người thân yêu, cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn đã thôi thúc con người khát khao chiến đấu vì tự do cho đất nước. Bài thơ cũng là lời nhắc nhở những thế hệ sau hãy luôn trân trọng và biết ơn những người đã cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước, chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc. Lời nhắc nhở thấm thía đó được thể hiện sáng tạo và gây ấn tượng với người đọc bởi những đặc sắc về mặt nghệ thuật. Biện pháp nhân hóa Chùm nhãn chín cành cao rạo rực/ Sắp gặp nắng nhựa dồn nên nhãn thức khiến cho nỗi nhớ quê hương qua những cảnh vật gần gũi, thân thương của chàng lính trẻ thêm sinh động, gần gũi. Hàng loạt các sự vật đều được nhân hóa: từ mỗi cây ngô gốc sắn quê nhà/ lo lắng từng cơn dông trận bão cho đến con chim cuốc cuốc đã vẫy gọi cánh đồng chiêm thao thức, hay những bbông lúa vàng hạt mẩy quẫy trong mưa… khiến cho bài thơ thêm sinh động, vạn vật như cũng có hồn, quấn quýt nhớ mong và gắn bó với con người, với quê hương. Biện pháp so sánh được sử dụng nhiều trong bài thơ: Như cây giữa rừng chẳng ngại phong ba…/ Lòng ta đẹp như là đất nước/ Như gió vui rụng ngọn lá trên cành… Như nhãn thơm thấm mát giọt mưa đầu/ Như tia nắng sáng niềm tin giản dị… vừa góp phần thể hiện tinh thần, ý chí của người lính trẻ; vừa thể hiện được tâm tư tình cảm, lòng yêu thương đất nước và niềm tin vào đất nước. Biện pháp so sánh đã góp phần làm tăng sự gợi hình gợi cảm cho diễn đạt, nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn lí tưởng và thái độ lạc quan của nhân vật trữ tình. Thể thơ tự do với cách ngắt nhịp linh hoạt; lời thơ như lời kể, tâm tình khiến cho bài thơ thêm đặc sắc. Có thể nói, Thức với quê hương là lời tâm sự của một chàng lính trẻ, cũng là nói thay nỗi lòng của biết bao thanh niên như Lưu Quang Vũ, đã từ bỏ nghiệp bút nghiên với những vần thơ dang dở, sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân vì mục tiêu chung thống nhất đất nước, giành độc lập tự do cho dân tộc. Đọc bài thơ, ta càng thấy trân trọng các thế hệ cha anh đi trước; nhắc nhở mình phải sống sao cho xứng đáng với những cống hiến, những hi sinh của cha anh.
