Văn mẫu 9

Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về bài thơ Đồng dao cho người lớn (Nguyễn Trọng Tạo)

Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về bài thơ Đồng dao cho người lớn (Nguyễn Trọng Tạo)

Đồng dao cho người lớn

có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời

có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới

có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi

có cả đất trời mà không nhà ở
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông

mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió

có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.
1992

 

DÀN Ý CHI TIẾT

1. Mở đoạn

– Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả): Đồng dao cho người lớn là một bài thơ thu hút người đọc từ ngay nhan đề tác phẩm. Đồng dao vốn thường dành cho lứa tuổi trẻ em, nhưng tác giả lại cố tình lạ hóa đối tượng, gây tò mò cho người đọc.

– Nêu ấn tượng chung về bài thơ: Khi đọc bài thơ, quả thật chúng ta đều nhận ra lí do vì sao tác giả đặt nhan đề như vậy, vì những vấn đề sâu sắc mang tính triết lí nhân sinh được đề cập đến: cái sống cái chết, cái nghĩa cái tình, quan niệm về tình yêu, về thời gian và quy luật của kiếp người.

2. Thân đoạn

* Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp…) của bài thơ.

– Mạch cảm xúc: Bài thơ mở đầu với vấn đề sống – chết và sống như thế nào của con người: có cánh rừng chết nhưng vẫn xanh trong tôi, tức là vẫn duy trì được sự sống, vẫn còn ý nghĩa. Ngược lại, có người sống mà như qua đời, sống mà dường như chỉ là tồn tại, không ý nghĩa.

+ Ba cặp câu tiếp theo, mỗi cặp câu đề cập đến một vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, bao trùm đời sống của con người. Đó là sự hoài nghi trong tình cảm, trong đời sống khi mà có câu trả lời biến thành câu hỏi; là sự khái quát những mảnh đời khác nhau khi có cha có mẹ có trẻ mồ côi; hay sự triết lí về có – không có cùng với vấn đề được – mất khi con người có cả đất trời mà không nhà ở/ có vui nho nhỏ có buồn mênh mông.

+ Cặp câu thứ năm như một lời đánh giá về thái độ ứng xử của con người trước những hoài nghi, những được mất, những sống còn, những đổi thay… của cuộc đời. Đó là thái độ tích cực, lạc quan; dù cho thế nào thì mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ/
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió. Mọi thứ trong cuộc sống vẫn diễn ra như thế, có điều, thái độ của ta với những điều này ra sao, đó mới là quan trọng!

+ Hai câu thơ cuối là lời tổng kết của nhà thơ trước mọi cảnh đời, trước quy luật chảy trôi của thời gian: có thương có nhớ có khóc có cười/ có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi. Thời gian trôi nhanh lắm, mà cuộc đời con người với mọi cung bậc cảm xúc cũng chỉ là hữu hạn thôi!

– Chủ đề: Với việc khắc họa những vấn đề xoay quanh cuộc đời của con người, những số phận và cảnh đời khác nhau, bài thơ gửi đến người đọc một câu hỏi lớn: Cuộc đời của mỗi con người nên sống như thế nào, nên ứng xử như thế nào với những vấn đề xung quanh chúng ta? Đó là trăn trở của nhà thơ, cũng là sự gửi gắm đến độc giả.

– Thông điệp: Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng rất đáng quý, đáng yêu. Chúng ta hãy mở rộng trái tim yêu thương đến với những người thân của ta, đến bạn bè, đến những thân phận khốn khổ xung quanh ta để thực sự sống một cuộc đời có ý nghĩa.

* Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung; nêu tác dụng của thể thơ tám chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ

– Kết cấu đối lập: Bài thơ được viết theo kết cấu đối lập, đối xứng trong mỗi cặp câu và trong một câu. Mỗi cặp câu nói đến một vấn đề trong cuộc sống ở hai thế vừa đối lập vừa bổ sung cho nhau, khiến không gian thơ mở rộng: chết/ sống, trả lời/ câu hỏi, có cha có mẹ/ có trẻ mồ côi, có cả đất trời/ không nhà ở, có vui nho nhỏ/ có buồn mênh mông… và ý nghĩa bài thơ thêm sâu sắc, tô đậm thêm tính triết lí.

– Biện pháp đảo ngữ được vận dụng triệt để: thuyền vẫn sông, xanh vẫn cỏ khiến cách diễn đạt thêm gợi hình gợi cảm; ý nghĩa thơ thêm lạ, thêm hay.

– Bài thơ gồm 12 dòng với 96 chữ mà có đến 5 từ “vẫn”, 6 từ “mà” và 16 từ “có”. Biện pháp điệp từ này khiến ý thơ được nhấn mạnh hơn, khiến chất trữ tình trong bài thơ thêm đậm đà, chất triết lí thêm sâu sắc.

– Bài thơ viết theo thể tám chữ, là một biến tấu đối với thể loại đồng dao được đề cập đến từ nhan đề. Đồng dao dân gian thường viết theo thể thơ bốn chữ, vì thế khi Nguyễn Trọng Tạo viết thể tám chữ đã có sự sáng tạo, biến thể. Ông có cách ngắt nhịp 4/4 xuyên suốt bài thơ, khiến mỗi câu thơ như được mở rộng thêm.

3. Kết đoạn

– Khái quát cảm nghĩ về bài thơ: Đồng dao cho người lớn là một bài thơ hay, đậm tính triết lí, thể hiện quan điểm nhân sinh sâu sắc của tác giả. Bài thơ kết thúc nhưng lại mở ra một câu hỏi lớn với người đọc; khiến mỗi chúng ta trăn trở suy nghĩ về cách sống, về cuộc đời.

 

BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT

Đồng dao cho người lớn là một bài thơ thu hút người đọc từ ngay nhan đề tác phẩm. Đồng dao vốn thường dành cho lứa tuổi trẻ em, nhưng tác giả lại cố tình lạ hóa đối tượng, gây tò mò cho người đọc. Khi đọc bài thơ, quả thật chúng ta đều nhận ra lí do vì sao tác giả đặt nhan đề như vậy, vì những vấn đề sâu sắc mang tính triết lí nhân sinh được đề cập đến: cái sống cái chết, cái nghĩa cái tình, quan niệm về tình yêu, về thời gian và quy luật của kiếp người. Bài thơ mở đầu với vấn đề sống – chết và sống như thế nào của con người: có cánh rừng chết nhưng vẫn xanh trong tôi, tức là vẫn duy trì được sự sống, vẫn còn ý nghĩa. Ngược lại, có người sống mà như qua đời, sống mà dường như chỉ là tồn tại, không ý nghĩa. Ba cặp câu tiếp theo, mỗi cặp câu đề cập đến một vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, bao trùm đời sống của con người. Đó là sự hoài nghi trong tình cảm, trong đời sống khi mà có câu trả lời biến thành câu hỏi; là sự khái quát những mảnh đời khác nhau khi có cha có mẹ có trẻ mồ côi; hay sự triết lí về có – không có cùng với vấn đề được – mất khi con người có cả đất trời mà không nhà ở/ có vui nho nhỏ có buồn mênh mông. Cặp câu thứ năm như một lời đánh giá về thái độ ứng xử của con người trước những hoài nghi, những được mất, những sống còn, những đổi thay… của cuộc đời. Đó là thái độ tích cực, lạc quan; dù cho thế nào thì mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ/ mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió. Mọi thứ trong cuộc sống vẫn diễn ra như thế, có điều, thái độ của ta với những điều này ra sao, đó mới là quan trọng! Nếu ta mặc kệ thế sự chảy trôi, thì có lẽ ta cũng chỉ sống một cuộc sống vô vị, không ý nghĩa mà thôi. Hai câu thơ cuối là lời tổng kết của nhà thơ trước mọi cảnh đời, trước quy luật chảy trôi của thời gian: có thương có nhớ có khóc có cười/ có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi. Thời gian trôi nhanh lắm, mà cuộc đời con người với mọi cung bậc cảm xúc cũng chỉ là hữu hạn mà thôi! Có thể nói, với việc khắc họa những vấn đề xoay quanh cuộc đời của con người, những số phận và cảnh đời khác nhau, bài thơ gửi đến người đọc một câu hỏi lớn: Cuộc đời của mỗi con người nên sống như thế nào, nên ứng xử như thế nào với những vấn đề xung quanh chúng ta? Đó là trăn trở của nhà thơ, cũng là sự gửi gắm đến độc giả. Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng rất đáng quý, đáng yêu. Chúng ta hãy mở rộng trái tim yêu thương đến với những người thân của ta, đến bạn bè, đến những thân phận khốn khổ xung quanh ta để thực sự sống một cuộc đời có ý nghĩa. Thông điệp sâu sắc đó được tác giả chuyển tải đến người đọc bằng những nét đặc sắc về mặt nghệ thuật. Bài thơ được viết theo kết cấu đối lập, đối xứng trong mỗi cặp câu và trong một câu. Mỗi cặp câu nói đến một vấn đề trong cuộc sống ở hai thế vừa đối lập vừa bổ sung cho nhau, khiến không gian thơ mở rộng: chết/ sống, trả lời/ câu hỏi, có cha có mẹ/ có trẻ mồ côi, có cả đất trời/ không nhà ở, có vui nho nhỏ/ có buồn mênh mông… và ý nghĩa bài thơ thêm sâu sắc, tô đậm thêm tính triết lí. Biện pháp đảo ngữ được vận dụng triệt để: thuyền vẫn sông, xanh vẫn cỏ khiến cách diễn đạt thêm gợi hình gợi cảm; ý nghĩa thơ thêm lạ, thêm hay. Bài thơ gồm 12 dòng với 96 chữ mà có đến 5 từ “vẫn”, 6 từ “mà” và 16 từ “có”. Biện pháp điệp từ này khiến ý thơ được nhấn mạnh hơn, khiến chất trữ tình trong bài thơ thêm đậm đà, chất triết lí thêm sâu sắc. Bài thơ viết theo thể tám chữ, là một biến tấu đối với thể loại đồng dao được đề cập đến từ nhan đề. Đồng dao dân gian thường viết theo thể thơ bốn chữ, vì thế khi Nguyễn Trọng Tạo viết thể tám chữ đã có sự sáng tạo, biến thể. Ông có cách ngắt nhịp 4/4 xuyên suốt bài thơ, khiến mỗi câu thơ như được mở rộng thêm. Có thể khẳng định rằng, Đồng dao cho người lớn là một bài thơ hay, đậm tính triết lí, thể hiện quan điểm nhân sinh sâu sắc của tác giả. Bài thơ kết thúc nhưng lại mở ra một câu hỏi lớn với người đọc; khiến mỗi chúng ta trăn trở suy nghĩ về cách sống, về cuộc đời.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *