Văn mẫu 9

Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về bài thơ Bến đò ngày xưa (Anh Thơ)

Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về bài thơ Bến đò ngày xưa (Anh Thơ)

BẾN ĐÒ NGÀY XƯA

Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át,

Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.

Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt,

Mặc con thuyền cắm lại đậu trơ vơ.

 

Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo?

Vài quán hàng không khách đứng xo ro.

Một bác lái ghé buồm vào hút điếu,

Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.

 

Ngoài đường lội hoạ hoằn người đến chợ,

Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.

Và hoạ hoằn một con thuyền ghé chở,

Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.

(Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân, NXB Văn học, 2007, tr 216)

 

DÀN Ý CHI TIẾT

1.     Mở đoạn

– Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả): Nếu nhắc đến tên tuổi của nhà thơ nữ tiêu biểu của giai đoạn Thơ Mới thì không thể không kể đến Anh Thơ. Bà là một nữ sĩ duyên dáng, nhẹ nhàng trong từng con chữ, từng bài thơ để lại cho văn đàn Việt dấu ấn khó quên.

– Nêu ấn tượng chung về bài thơ: Bến đò ngày xưa là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của nữ thi sĩ, khắc họa khung cảnh của một bến đò trong ngày mưa, qua đó thể hiện tâm tình của thi nhân.

2.     Thân đoạn

* Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp…) của bài thơ.

– Mạch cảm xúc: Bài thơ gợi tả quang cảnh của một bến đò trong ngày mưa. Qua việc khắc họa bức tranh cảnh vật và con người nơi bến đò, Anh Thơ đã phác họa được nét quen thuộc của phong cảnh làng quê Việt.

+ Quang cảnh bến đò trong ngày mưa được lột tả với sự đìu hiu, im lặng, vắng vẻ của cảnh vật. Khổ thơ đầu tiên đã khắc họa rõ nét điều đó với sự rũ rợi, ướt át, bơ phờ của tre, của chuối. Dòng sông cũng đang dầm mình trong mưa, hạt mưa rơi xuống sông tạo sức trôi mạnh hơn cho dòng nước, nhưng cũng chỉ đủ rào rạt để níu giữ một con thuyền  đang đậu trơ vơ nơi đó. Cảnh vật đều đang im lìm trong chiều mưa hiu hắt.

+ Hai khổ thơ tiếp theo đã có sự xuất hiện của con người để tô điểm cho bức tranh bến đò ngày mưa. Nhưng sự xuất hiện này không những làm cho cảnh vật thêm vui vẻ hào hứng chút nào, mà ngược lại càng tô đậm thêm sự vắng vẻ, hiu hắt của không gian nơi đây. Hình ảnh con người hiện lên chân thực, gần gũi, gợi lên nhịp sống chậm rãi, bình yên nơi thôn quê với một bác lái, bà hàng hay họa hoằn mới có người đến chợ…

=> Khung cảnh bến đò vắng lặng, hiu hắt ngày mưa đã gợi lên không gian đìu hiu, nhịp sống lặng lẽ, chậm rãi và yên ả của những người dân thôn quê. Họ vẫn từng ngày trải qua sự yên bình nhỏ nhoi như vậy. Sự vắng lặng, hắt hiu này phần nào cũng là sự phản ánh với xã hội Việt Nam thời kì đó, khi mà nhân dân ta phải chịu hai ách đô hộ của thực dân và phong kiến.

Chủ đề: Qua việc khắc họa khung cảnh hiu hắt của bến đò ngày mưa; tác giả đã thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của mình qua việc yêu từ những gì nhỏ bé, thân thương nhất xung quanh mình; cảm nhận được cái hay cái đẹp, sức sống của những gì bình dị thân thương đó.

– Thông điệp: Tác giả muốn gửi gắm đến người đọc tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết của mình, mong mỗi người hãy luôn yêu thương những gì gần gũi nhất với mình.

* Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung; nêu tác dụng của thể thơ tám chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ

– Từ ngữ: tác giả sử dụng nhiều từ ngữ giàu sức gợi hình, rất nhiều từ láy, từ tượng hình và tượng thanh được dùng trong cả bài thơ như: rũ rợi, ướt át, bơ phờ, rào rạt, trơ vơ, lạnh lẽo, xo ro, sù sụ, họa hoằn, âm thầm… vừa góp phần gợi hình ảnh, tăng hiệu quả diễn đạt vừa góp phần tạo nhạc tính cho bài thơ.

– Biện pháp tu từ:

+ Biện pháp điệp từ dầm mưa, họa hoằn được sử dụng trong khổ thơ đầu và khổ thơ cuối đã nhấn mạnh được tác động của cơn mưa đến mọi vật, khiến mọi vật đều đang dầm mình dưới màn mưa; khiến cho họa hoằn mới có người đến chợ.

+ Biện pháp nhân hóa Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át/ Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa hay hình ảnh Vài quán hàng không khách đứng xo ro khiến cho bức tranh bến đò thêm có hồn, thêm sức sống. Mọi vật như cũng có cảm xúc, suy nghĩ, hành động như con người.

+ Biện pháp so sánh Thúng đội đầu như đội cả trời mưa vừa diễn tả cụ thể, vừa diễn tả sinh động hình ảnh của người dân quê trên quãng đường lúc trời mưa, gợi cái hồn quê nơi bến vắng.

– Bài được viết theo thể thơ tám chữ, gieo vần linh hoạt, chủ yếu là vẫn chân at, ơ và o; nhịp thơ chậm rãi, phù hợp với việc miêu tả không gian, nhịp sống nơi làng quê. Đặc biệt có lúc nhịp thơ biến tấu trong câu Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho khiến bài thơ có điểm nhấn, hấp dẫn hơn.

3.     Kết đoạn

– Khái quát cảm nghĩ về bài thơ: Bến đò ngày mưa là bài thơ mang đậm phong cách thi sĩ Anh Thơ, nhẹ nhàng, duyên dáng mà cuốn hút. Với hồn thơ tinh tế, cảm nhận được nét đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn con người xung quanh mình; cùng việc vận dụng linh hoạt, tinh tế hệ thống từ ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ đặc sắc; Anh Thơ đã  để lại cho thế hệ sau một bài thơ tuyệt đẹp!

BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT

ienNếu nhắc đến tên tuổi của nhà thơ nữ tiêu biểu của giai đoạn Thơ Mới thì không thể không kể đến Anh Thơ. Bà là một nữ sĩ duyên dáng, nhẹ nhàng trong từng con chữ, từng bài thơ để lại cho văn đàn Việt dấu ấn khó quên. Bến đò ngày xưa là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của nữ thi sĩ, khắc họa khung cảnh của một bến đò trong ngày mưa, qua đó thể hiện tâm tình của thi nhân. Bài thơ gợi tả quang cảnh của một bến đò trong ngày mưa. Qua việc khắc họa bức tranh cảnh vật và con người nơi bến đò, Anh Thơ đã phác họa được nét quen thuộc, hồn cốt của phong cảnh làng quê Việt. Quang cảnh bến đò trong ngày mưa được lột tả với sự đìu hiu, im lặng, vắng vẻ của cảnh vật, thể hiện rõ trong khổ thơ đầu tiên với sự rũ rợi, ướt át, bơ phờ của tre, của chuối. Dòng sông cũng đang dầm mình trong mưa, hạt mưa rơi xuống sông tạo sức trôi mạnh hơn cho dòng nước, nhưng cũng chỉ đủ rào rạt để níu giữ một con thuyền  đang đậu trơ vơ nơi đó. Cảnh vật đều đang im lìm trong chiều mưa hiu hắt. Hai khổ thơ tiếp theo đã có sự xuất hiện của con người để tô điểm cho bức tranh bến đò ngày mưa. Nhưng sự xuất hiện này không những làm cho cảnh vật thêm vui vẻ hào hứng chút nào, mà ngược lại càng tô đậm thêm sự vắng vẻ, hiu hắt của không gian nơi đây. Hình ảnh con người hiện lên chân thực, gần gũi, gợi lên nhịp sống chậm rãi, bình yên nơi thôn quê với một bác lái, bà hàng hay họa hoằn mới có người đến chợ… Khung cảnh bến đò vắng lặng, hiu hắt ngày mưa đã gợi lên không gian đìu hiu, nhịp sống lặng lẽ, chậm rãi và yên ả của những người dân thôn quê. Họ vẫn từng ngày trải qua sự yên bình nhỏ nhoi như vậy. Sự vắng lặng, hắt hiu này phần nào cũng là sự phản ánh với xã hội Việt Nam thời kì đó, khi mà nhân dân ta phải chịu hai ách đô hộ của thực dân và phong kiến. Qua việc khắc họa khung cảnh hiu hắt của bến đò; tác giả đã thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của mình qua việc yêu từ những gì nhỏ bé, thân thương nhất xung quanh mình; cảm nhận được cái hay cái đẹp, sức sống của những gì bình dị thân thương đó. Đồng thời, tác giả gửi gắm đến người đọc tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết của mình, mong mỗi người hãy luôn yêu thương những gì gần gũi nhất với mình. Thông điệp đó được chuyển tải đầy hấp dẫn bởi hệ thống các từ ngữ giàu sức gợi hình, rất nhiều từ láy, từ tượng hình và tượng thanh được dùng trong cả bài thơ như: rũ rợi, ướt át, bơ phờ, rào rạt, trơ vơ, lạnh lẽo, xo ro, sù sụ, họa hoằn, âm thầm… vừa góp phần gợi hình ảnh, tăng hiệu quả diễn đạt vừa góp phần tạo nhạc tính cho bài thơ. Các biện pháp tu từ đặc sắc cũng góp phần không nhỏ trong việc làm nên sức hấp dẫn của thi phẩm này. Đó là biện pháp điệp từ dầm mưa, họa hoằn được sử dụng trong khổ thơ đầu và khổ thơ cuối đã nhấn mạnh được tác động của cơn mưa đến mọi vật, khiến mọi vật đều đang dầm mình dưới màn mưa; khiến cho họa hoằn mới có người đến chợ. Đó là biện pháp nhân hóa Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át/ Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa hay hình ảnh Vài quán hàng không khách đứng xo ro khiến cho bức tranh bến đò thêm có hồn, thêm sức sống. Mọi vật như cũng có cảm xúc, suy nghĩ, hành động như con người. Đó là biện pháp so sánh Thúng đội đầu như đội cả trời mưa vừa diễn tả cụ thể, vừa diễn tả sinh động hình ảnh của người dân quê trên quãng đường lúc trời mưa, gợi cái hồn quê nơi bến vắng. Bên cạnh đó, bài được viết theo thể thơ tám chữ, gieo vần linh hoạt, chủ yếu là vẫn chân at, ơ và o; nhịp thơ chậm rãi, phù hợp với việc miêu tả không gian, nhịp sống nơi làng quê. Đặc biệt có lúc nhịp thơ biến tấu trong câu Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho khiến bài thơ có điểm nhấn, hấp dẫn hơn. Có thể nói, Bến đò ngày mưa là bài thơ mang đậm phong cách thi sĩ Anh Thơ, nhẹ nhàng, duyên dáng mà cuốn hút. Với hồn thơ tinh tế, cảm nhận được nét đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn con người xung quanh mình; cùng việc vận dụng linh hoạt, tinh tế hệ thống từ ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ đặc sắc; Anh Thơ đã  để lại cho thế hệ sau một bài thơ tuyệt đẹp!

ĐỀ SỐ 7: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về bài thơ Đi qua đời con (Bình Nguyên Trang

Những mùa thu đi qua đời con
Gieo âm thanh bình yên
Trái chín rụng thơm triền miên lối ngõ
Rất chênh vênh là chiếc cầu ao nhỏ
Ngồi với mùa thu con đợi mẹ về.

Men theo lối quen đá sỏi gồ ghề
Con đi giữa hai bờ toàn hoa dại
Nhưng cổ tích buồn cứ theo con mãi
Lạc một dòng sông con chẳng có thuyền về.

Cha đi tìm con suốt dọc bờ đê
Có loài dế trầm ngâm không hát
Nỗi đợi chờ khiến hoa bìm rất nhạt
Màu tím buồn chạm cánh buốt vào tim.

Con gào lên vô thanh trong lặng im
Cha không thấy con lạc dòng mười tám tuổi
Mẹ không thấy con một mình rong ruổi
Ai qua những mùa thu không heo may.

Con nước ngàn năm đập nhịp vơi đầy
Con lênh đênh giữa hai bờ cha mẹ
Rồi mùa thu đi qua, rồi mùa thu lặng lẽ
Thả nỗi niềm riêng lên gió mây.
(23-10-1995)

DÀN Ý CHI TIẾT

4.     Mở đoạn

– Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả): Trên hành trình trưởng thành, có lẽ  mỗi chúng ta đều đã trải qua những thời điểm cô đơn, cảm giác không được người khác thấu hiểu và sẻ chia. Cảm giác này đã được nhà thơ Bình Nguyên Trang nắm bắt và tái hiện rất tinh tế trong bài thơ “Đi qua đời con”

– Nêu ấn tượng chung về bài thơ: Bài thơ là những cảm xúc trăn trở, suy tư của một cô thiếu nữ nhạy cảm, khi mong muốn cha mẹ hiểu mình, sẻ chia với mình nhưng không được như mong muốn.

5.     Thân đoạn

* Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp…) của bài thơ.

– Mạch cảm xúc: Bài thơ mở ra với những cảm nhận dung dị, yên ả của nhân vật trữ tình như một lời thủ thỉ về bước đi của thời gian, khi mà “những mùa thu đi qua đời con” đang chầm chậm đưa con từ tuổi thơ đến bến bờ trưởng thành.

+ Tuổi thơ con lớn lên trong không gian bình dị đó, thế nhưng cảm xúc, tình cảm của “con” lại không được bình yên như cây cỏ cảnh vật vậy. Nỗi chênh vênh xuất hiện từ sự mong ngóng chờ mẹ về nơi cầu ao, cho đến khi cảm nhận được Nhưng cổ tích buồn cứ theo con mãi/ Lạc một dòng sông con chẳng có thuyền về. Cảm xúc lo lắng, trăn trở, cô đơn và chênh vênh không có sự thấu hiểu khiến nhân vật trữ tình lạc lõng, buồn bã.

+ Sự trông mong được chia sẻ, được thấu hiểu của “con” ngày càng lớn dần lên, khi nỗi đợi chờ đã dần dần thành chai lì bớt theo thời gian và khiến nỗi buồn sầu buốt vào tim. Có lẽ rằng những tâm sự của một cô bé nhạy cảm đang trong thời kì thay đổi tâm lí không được thấu hiểu đúng như mong muốn nên khiến “con” buồn bã đó chăng?

+ Đỉnh điểm của sự buồn bã đến bất lực khi cảm thấy không được đồng hành, sẻ chia và thấu hiểu đó là hành động Con gào lên vô thanh trong lặng im; âm thanh trong lòng mà không nói lên được, “gào” lên nhưng lại “vô thanh” và thêm không gian “lặng im” nữa càng làm rõ thêm sự buồn sầu trong tâm trạng của nhân vật trữ tình.

+ Dòng thời gian vẫn tiếp tục trôi, những mùa thu vẫn tiếp tục đi qua đời con nhưng có lẽ vẫn chưa tìm được sự thấu hiểu và đồng điệu; vì vậy mà Con lênh đênh giữa hai bờ cha mẹ mà chưa tìm được bến đỗ, chưa tìm được sự thấu hiểu và bình yên cho riêng mình. Cuối cùng, “con” đành lặng lẽ gửi tâm sự, gửi nỗi niềm riêng của mình cho gió mây…

– Thông điệp, chủ đề: Bài thơ là lời tâm sự của nhân vật trữ tình “con” – được miêu tả trong bài thơ là một cô thiếu nữ đang trên hành trình trưởng thành với những suy tư, tình cảm; cần được sự đồng hành và thấu hiểu của cha mẹ. Vì lí do gì đó, cô bé không có được những điều này từ cha mẹ mình. Bài thơ là lời gửi gắm đến với những người làm cha làm mẹ, hãy giành thời gian để thấu hiểu con cái của mình; đồng hành cùng con trên chặng đường trưởng thành.

* Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung; nêu tác dụng của thể thơ tám chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ

Bài thơ sử dụng những hình ảnh rất bình dị, gần gũi và quen thuộc khiến người đọc hình dung được một miền quê nhỏ yên ả trong tuổi thơ của nhân vật “con”: Trái chín rụng thơm triền miên, chiếc cầu ao nhỏ, lối quen đá sỏi gồ ghề, hoa dại, dọc bờ đê, loài dế, hoa bìm…

Hình ảnh mùa thu được nhắc đến ở khổ đầu bài thơ, cùng với điệp lại Rồi mùa thu đi qua, rồi mùa thu lặng lẽ trong khổ thơ cuối khiến hình ảnh mùa thu xuyên suốt bài thơ; đồng hành cùng tuổi thơ con, đồng hành cùng những khắc khoải chờ đợi của con.

– Biện pháp nhân hóa Có loài dế trầm ngâm không hát gợi tả được sự im lìm, trầm tư của cảnh vật, như cũng đang nhuốm đầy tâm sự giống nhân vật “con” trong bài thơ.

Biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ: Cha không thấy con lạc dòng mười tám tuổi/ Mẹ không thấy con một mình rong ruổi khiến người đọc cảm nhận rõ nét hơn về sự cô đơn, không được thấu hiểu của một cô con gái đang tuổi trưởng thành. Ở cái tuổi chênh vênh giữa bé con và người lớn ấy, cần lắm sự dẫn dắt và đồng hành của cha mẹ, sự thấu hiểu của cha mẹ.

– Thể thơ tự do với cách ngắt nhịp linh hoạt, cách gieo vần chân khiến cho các dòng thơ có sự liên kết chặt chẽ.

6.     Kết đoạn

– Khái quát cảm nghĩ về bài thơ: Đi qua đời con là một bài thơ đặc sắc của Bình Nguyên Trang, lột tả được tâm trạng của lứa tuổi mới lớn nhạy cảm, giàu cảm xúc và đặt ra vấn đề có tính sâu sắc trong tình cảm gia đình. Bài thơ cũng góp phần làm nên dấu ấn rất riêng trong phong cách của nhà thơ đất thành Nam.

BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT

Trên hành trình trưởng thành, có lẽ  mỗi chúng ta đều đã trải qua những thời điểm cô đơn, cảm giác không được người khác thấu hiểu và sẻ chia. Cảm giác này đã được nhà thơ Bình Nguyên Trang nắm bắt và tái hiện rất tinh tế trong tác phẩm “Đi qua đời con”. Bài thơ là những cảm xúc trăn trở, suy tư của một cô thiếu nữ nhạy cảm, khi mong muốn cha mẹ hiểu mình, sẻ chia với mình nhưng không được như mong muốn. Bài thơ mở ra với những cảm nhận dung dị, yên ả của nhân vật trữ tình như một lời thủ thỉ về bước đi của thời gian, khi mà “những mùa thu đi qua đời con” đang chầm chậm đưa con từ tuổi thơ đến bến bờ trưởng thành. Tuổi thơ con lớn lên trong không gian bình dị đó, thế nhưng cảm xúc, tình cảm của “con” lại không được bình yên như cây cỏ cảnh vật vậy. Nỗi chênh vênh xuất hiện từ sự mong ngóng chờ mẹ về nơi cầu ao, cho đến khi cảm nhận được Nhưng cổ tích buồn cứ theo con mãi/ Lạc một dòng sông con chẳng có thuyền về. Cảm xúc lo lắng, trăn trở, cô đơn và chênh vênh không có sự thấu hiểu khiến nhân vật trữ tình lạc lõng, buồn bã. Sự trông mong được chia sẻ, được thấu hiểu của “con” ngày càng lớn dần lên, khi nỗi đợi chờ đã dần dần thành chai lì bớt theo thời gian và khiến nỗi buồn sầu buốt vào tim. Có lẽ rằng những tâm sự của một cô bé nhạy cảm đang trong thời kì thay đổi tâm lí không được thấu hiểu đúng như mong muốn nên khiến “con” buồn bã đó chăng? Đỉnh điểm của sự buồn bã đến bất lực khi cảm thấy không được đồng hành, sẻ chia và thấu hiểu đó là hành động Con gào lên vô thanh trong lặng im; âm thanh trong lòng mà không nói lên được, “gào” lên nhưng lại “vô thanh” và thêm không gian “lặng im” nữa càng làm rõ thêm sự buồn sầu trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Dòng thời gian vẫn tiếp tục trôi, những mùa thu vẫn tiếp tục đi qua đời con nhưng có lẽ vẫn chưa tìm được sự thấu hiểu và đồng điệu; vì vậy mà Con lênh đênh giữa hai bờ cha mẹ mà chưa tìm được bến đỗ, chưa tìm được sự thấu hiểu và bình yên cho riêng mình. Cuối cùng, “con” đành lặng lẽ gửi tâm sự, gửi nỗi niềm riêng của mình cho gió mây… Bài thơ là lời tâm sự của nhân vật trữ tình “con” – được miêu tả trong bài thơ là một cô thiếu nữ đang trên hành trình trưởng thành với những suy tư, tình cảm; cần được sự đồng hành và thấu hiểu của cha mẹ. Vì lí do nào đó, cô bé không có được những điều này từ cha mẹ mình. Bài thơ là lời gửi gắm đến với những người làm cha làm mẹ, hãy giành thời gian để thấu hiểu con cái của mình; đồng hành cùng con trên chặng đường trưởng thành. Lời gửi gắm đó thêm giàu cảm xúc và ý nghĩa khi tác giả sử dụng những yếu tố đặc sắc về mặt nghệ thuật. Hình ảnh rất bình dị, gần gũi và quen thuộc khiến người đọc hình dung được một miền quê nhỏ yên ả trong tuổi thơ của nhân vật “con”: Trái chín rụng thơm triền miên, chiếc cầu ao nhỏ, lối quen đá sỏi gồ ghề, hoa dại, dọc bờ đê, loài dế, hoa bìm… Hình ảnh mùa thu được nhắc đến ở khổ đầu bài thơ, cùng với điệp lại Rồi mùa thu đi qua, rồi mùa thu lặng lẽ trong khổ thơ cuối khiến hình ảnh mùa thu xuyên suốt bài thơ; đồng hành cùng tuổi thơ con, đồng hành cùng những khắc khoải chờ đợi của con. Biện pháp nhân hóa Có loài dế trầm ngâm không hát gợi tả được sự im lìm, trầm tư của cảnh vật, như cũng đang nhuốm đầy tâm sự giống nhân vật “con” trong bài thơ. Biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ: Cha không thấy con lạc dòng mười tám tuổi/ Mẹ không thấy con một mình rong ruổi khiến người đọc cảm nhận rõ nét hơn về sự cô đơn, không được thấu hiểu của một cô con gái đang tuổi trưởng thành. Ở cái tuổi chênh vênh giữa bé con và người lớn ấy, cần lắm sự dẫn dắt và đồng hành của cha mẹ, sự thấu hiểu của cha mẹ. Thể thơ tự do với cách ngắt nhịp linh hoạt, cách gieo vần chân khiến cho các dòng thơ có sự liên kết chặt chẽ. Có thể nói, Đi qua đời con là một bài thơ đặc sắc của Bình Nguyên Trang, lột tả được tâm trạng của lứa tuổi mới lớn nhạy cảm, giàu cảm xúc và đặt ra vấn đề có tính sâu sắc trong tình cảm gia đình. Bài thơ cũng góp phần làm nên dấu ấn rất riêng trong phong cách của nhà thơ đất thành Nam trên thi đàn Việt.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *