| DÀN Ý CHI TIẾT
A. Mở bài – Dẫn dắt, nêu tên di tích lịch sử – văn hóa: Bắc Ninh là một địa phương nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử, văn hóa cổ truyền còn tồn tại cho đến ngày nay. Nằm trong số những địa danh di tích lịch sử – văn hóa ấy, Đền Đô hiện lên như một chứng nhân lịch sử hào hùng, in đậm giá trị văn hóa từ ngàn xưa. – Đánh giá khái quát về giá trị của di tích lịch sử – văn hóa: Với kiến trúc độc đáo và giá trị lịch sử sâu sắc, Đền Đô không chỉ là niềm tự hào của người dân Bắc Ninh mà còn là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước mỗi độ xuân về. B. Thân bài 1. Trình bày các đặc điểm của di tích lịch sử – văn hóa 1.1. Về vị trí địa lý, khoảng cách – Đền Đô nằm tại phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, ở vị trí trung tâm, gần trục giao với quốc lộ 1A – con đường nối thông hai miền Nam – Bắc. – Tọa lạc ở vị trí đắc địa, Đền Đô được truyền tụng rằng sở hữu vượng khí, phong thủy cực tốt, là mảnh đất rồng thiêng. Theo tín ngưỡng dân gian, nơi được lựa chọn xây đền có hình dạng “liên hoa bát diệp”, có nghĩa là bông sen tám cánh tỏa sáng tâm Phật – tương ứng với bát đế vương triều Lý. – Quãng đường từ trung tâm thành phố Hà Nội đến Đền Đô dài khoảng hơn 20km. Vậy nên, việc di chuyển từ khu vực nội thành tới nơi đây rất dễ dàng, có thể sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau như: ô tô, xe buýt, tắc xi, xe máy,… 1.2. Về kiến trúc bên ngoại thành Kiến trúc Đền Đô được chia ra làm hai khu vực chính là ngoại thành và nội thành. Trong đó, kiến trúc ngoại thành được bố trí và tổ hợp một cách đăng đối, cân xứng và hài hòa, bao gồm các công trình như: cổng tam quan, thủy đình các, nhà văn chỉ, nhà võ chỉ,… – Khu vực cổng tam quan, nhà văn chỉ và nhà võ chỉ + Cổng tam quan của Đền Đô là cổng chính vào đền, với cấu trúc 3 cổng, một cổng lớn với hai cổng phụ. + Điểm nhấn của cổng tam quan chính là những mái ngói âm dương được chế tác bởi các nghệ nhân xưa, càng làm tăng thêm vẻ uy nghiêm cho di tích lịch sử – văn hóa đặc biệt này. + Khi bước qua cổng tam quan, chúng sẽ bắt gặp ngay khu nhà văn chỉ, nhà võ chỉ nằm trang trọng giữa hai bên của đền chính, hướng mặt ra phía hồ bán nguyệt. + Nhà văn chỉ nằm bên trái khu nội thành, gồm 3 gian, được thiết kế theo lối kiến trúc hai tầng, với hai lớp mái chồng lên nhau. Đây là nơi thờ những quan văn đã có công lớn giúp nhà Lý như: Tô Hiến Thành, Lý Đạo Thành,… + Nhà võ chỉ nằm bên phải khu nội thành, có kiến trúc đối xứng và tương tự như nhà văn chỉ. Đây là nơi thờ những quan võ đã có công lớn giúp nhà Lý như: Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc,… – Khu vực thủy đình các + Thủy đình các là một tòa nhà có khoảng không thoáng đãng với năm gian riêng lẻ, được xây dựng ở giữa hồ bán nguyệt, nối với đền chính bằng chiếc cầu đá thơ mộng, cong cong. + Thủy đình được xây dựng theo lối kiến trúc cổ điển chồng diêm 8 mái, với 8 đao cong hướng về bốn góc, mềm mại nhưng cũng tráng lệ, uy nghi . + Vật liệu để xây dựng lên thủy đình chính là gỗ lim – một trong bốn loại gỗ quý nhất ở Việt Nam. Mỗi một cột gỗ được dựng lên đều được chạm khắc hoa văn tinh xảo. + Thời Pháp thuộc, nhà thủy đình này đã từng được Ngân hàng Đông Dương chọn là hình ảnh in trên giấy bạc năm đồng vàng. + Tương truyền rằng, thủy đình là nơi để các chức sắc xưa kia ngồi xem biểu diễn rối nước. Tuy nhiên, theo dòng chảy của thời đại, thủy đình các giờ đây đã trở thành không gian sinh hoạt văn hóa của người dân nơi đây với những làn điệu dân ca Quan họ trọng nghĩa, trọng tình. 1.3. Về kiến trúc bên nội thành Kiến trúc nội thành Đền Đô được bài trí tinh xảo, theo lối kiến trúc cổ truyền của phương Đông chính là “nội công ngoại quốc”, bao gồm các công trình: ngũ long môn, chính điện, nhà chuyền bồng và nhà bia. – Ngũ long môn và chính điện + Ngũ long môn là cổng chính dẫn vào nội thành, sở dĩ có tên gọi như vậy bởi trên hai cánh cổng có chạm khắc hình năm con rồng rất tinh xảo, sống động, thể hiện sự uy nghiêm và quyền năng tối cao của các vị vua triều Lý. + Từ ngũ long môn đi vào là khu vực của chính điện. Trong chính điện bao gồm Phương đình hay còn gọi là nhà vuông , nhà Tiền tế và Cổ pháp điện. + Phương đình được xây dựng trên khoảng sân rồng, với kiến trúc 3 gian, 8 mái. Trước Phương đình là một lư hương lớn, hai bên có tượng voi phục hổ chầu, thể hiện khí chất của bậc quân vương. + Sau Phương đình là nhà Tiền tế gồm bảy gian, đây nơi tế lễ các vị vua vào những ngày giỗ hoặc dịp lễ hội và thờ vua Lý Thái Tổ – người khai sinh ra vương triều Lý. Gian giữa tiền tế được đặt tượng cấm vệ quân triều Lý vô cùng sống động, uy nghiêm. + Phía trong cùng là Cổ Pháp điện với bảy gian lớn, rộng khoảng 180m2. Mỗi gian đặt một ngai thờ, bài vị và tượng một vị vua. Gian chính giữa đặt tượng vua Lý Thái Tổ và con trai trưởng là vua Lý Thái Tông, tượng trưng cho hình thức cha truyền con nối. – Nhà chuyền bồng và nhà bia + Nhà chuyền bồng được xây dựng theo kiến trúc kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại, bao gồm nhà để kiệu thờ và nhà để ngựa thờ. + Đây nơi đặt ban Công Đồng, tương tự như ban Tam Bảo ở chùa. Đây là nơi người dân, du khách đến dâng hương, lễ bái. + Phía Đông đền có nhà bia, nơi đặt Cổ Pháp Điện Tạo Bi. Tấm bia này do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan biên soạn, ghi lại sự kiện vua Lê Kính Tông xây dựng lại đền và khắc ghi công đức của các vị vua triều Lý. + Được khắc dựng năm 1605, có chiều dài 17cm, rộng 103cm và cao 190cm, tấm bia được chạm khắc tinh xảo, trán bia có hình lưỡng long chầu nguyệt, mặt trăng chạm nổi, có các tia hào quang tỏa chiếu xung quanh. + Theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ, lòng bia được khắc 35 dòng chữ Hán xen kẽ một số chữ Nôm, tổng cộng khoảng 1500 chữ. Tuy nhiên do thời gian và chiến tranh tàn phá, tấm bia đã bị hư hại, những họa tiết và chữ khắc trên bia đã không còn rõ nét. 2. Giải thích các điều kiện tạo nên nét đặc thù của di tích lịch sử – văn hóa – Đền Đô được xem là một di tích lịch sử – văn hóa đặc biệt và còn được bảo tồn, tu sửa đến ngày nay chính là vì những dấu ấn đặc biệt trong dòng chảy lịch sử tạo ra những nét đặc thù riêng của ngôi đền linh thiêng đó. – Theo các tích xưa, nơi Đền Đô tọa lạc chính là làng Cổ Pháp – mảnh đất thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, nơi sinh ra vua Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của triều Lý sau này. – Cũng chính vì thế, khi vua Lý Thái Tông trong một dịp về quê làm giỗ cha, ông đã lệnh cho người xây dựng đền Đô làm nơi thờ phụng cha trên nền ngôi đình cũ xưa. – Trải qua ngót nghét gần một thiên niên kỷ, nơi đây đã trở thành chứng tích cho triều đại nhà Lý – một trong những vương triều thịnh vượng nhất trong lịch sử phong kiến của nước ta, và là nơi thờ tự của vương triều Lý sau này. – Vậy nên, cứ vào dịp 15/3 âm lịch hàng năm, nơi đây lại diễn ra một trong những lễ hội lớn nhất xứ Kinh Bắc – lễ hội Đền Đô nhằm tưởng nhớ công lao và ân đức của các vị vua triều Lý, đồng thời làm đẹp thêm truyền thống văn hóa vẻ vang của xứ Kinh Bắc địa linh nhân kiệt. 3. Các giá trị nổi bật của di tích lịch sử – văn hóa – Giá trị lịch sử: + Đền Đô gắn liền với triều đại nhà Lý, mang dấu ấn to lớn gắn liền với “Chiếu dời đô”, mở ra thời kỳ độc lập, cho nước ta, thoát khỏi ách đô hộ của giặc phương Bắc. + Hiện tại, nơi đây còn lưu giữ nhiều văn vật, hiện vật quý báu từ các triều đại phong kiến xa xưa, có giá trị nghiên cứu trong ngành khảo cổ học của nước nhà. – Giá trị văn hóa – giáo dục: + Đền Đô là nơi hội tụ nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc, đặc biệt là người dân xứ Kinh Bắc xưa. + Đây còn là một điểm đến lý tưởng cho việc học tập và nghiên cứu lịch sử, đồng thời góp phần giáo dục các thế hệ sau về truyền thống và bản sắc văn hóa của dân tộc. – Giá trị kinh tế – xã hội: + Với những giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục và tâm linh đặc sắc, Đền Đô là một điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. + Sự phát triển du lịch tại Đền Đô góp phần quan trọng vào nền tảng kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy hoạt động kinh doanh, dịch vụ. 4. Tình trạng bảo tồn, phát huy giá trị của di tích lịch sử – văn hóa – Hiện nay, Đền Đô đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia hạng đặc biệt, vậy nên các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của Đền Đô luôn được người dân địa phương và chính quyền các cấp quan tâm. – Các hạng mục, công trình trong khuôn viên của đền vẫn luôn được trùng tu, nâng cấp và bảo dưỡng hàng năm để tránh xảy ra tình trạng mối mọt. – Tuy nhiên, trong các dịp lễ, khi lượng du khách đổ về quá đông sẽ dễ gây ra tình trạng chen lấn, xô đẩy, gây mất cảnh quan trong đền và dễ xảy ra các nguy cơ hỏng hóc các văn vật, hiện vật quý. – Chính vì vậy, cần nâng cao hơn nữa vai trò quản lý của địa phương, nhấn mạnh việc phát triển kinh tế phải đi đôi song hành với việc bảo tồn di sản để di tích được lâu bền. C. Kết bài – Khái quát ý nghĩa, giá trị của di tích lịch sử – văn hóa trong việc phát triển đất nước: Đền Đô không chỉ có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn đóng góp vào phát triển du lịch, kinh tế và xã hội của địa phương. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của đền Đô góp phần gìn giữ di sản văn hóa, thúc đẩy du lịch bền vững. – Liên hệ bản thân: Chúng ta cần có trách nhiệm bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc. Cần tích cực tham gia các hoạt động bảo tồn di sản, giáo dục về ý nghĩa và tầm quan trọng của các di tích lịch sử để hiểu rõ về cội nguồn dân tộc. |
BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT
ieNếu có dịp về đến Bắc Ninh mảnh đất trữ tình, bên cạnh câu ca Quan họ ngọt ngào, đằm thắm, dòng sông Cầu nước nước chảy lơ ngơ, chắc hẳn ai cũng phải ngẩn ngơ, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm của những di tích lịch sử, văn hóa nơi đây. Nằm trong số những địa danh di tích lịch sử văn hóa ấy, Đền Đô hiện lên như một chứng nhân lịch sử hào hùng, in đậm giá trị văn hóa từ ngàn xưa. Với kiến trúc độc đáo và giá trị lịch sử sâu sắc, Đền Đô không chỉ là niềm tự hào của người dân Bắc Ninh mà còn là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước mỗi độ xuân về.
Đền Đô nằm tại phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đền được xây dựng ở vị trí trung tâm, gần trục giao với quốc lộ 1A – con đường nối thông hai miền Nam – Bắc. Tọa lạc ở vị trí đắc địa, Đền Đô được truyền tụng rằng sở hữu vượng khí, phong thủy cực tốt, là mảnh đất rồng thiêng. Theo tín ngưỡng dân gian, nơi được lựa chọn xây đền có hình dạng “liên hoa bát diệp”, có nghĩa là bông sen tám cánh tỏa sáng tâm Phật – tương ứng với bát đế vương triều Lý. Quãng đường từ trung tâm thành phố Hà Nội đến Đền Đô dài khoảng hơn 20km. Vậy nên, việc di chuyển từ khu vực nội thành tới nơi đây rất thuận tiện và dễ dàng, có thể sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau như: ô tô, xe buýt, tắc xi hay xe máy.
Đền Đô có diện tích khoảng hơn 30000 m2 với 21 hạng mục công trình lớn nhỏ, được chia thành hai khu vực ngoại thành và nội thành. Trong đó, kiến trúc ngoại thành được bố trí và tổ hợp một cách đăng đối, cân xứng và hài hòa, bao gồm các công trình như: cổng tam quan, nhà văn chỉ, nhà võ chỉ, thủy đình các,… Cổng tam quan của Đền Đô là cổng chính vào đền, với cấu trúc 3 cổng, một cổng lớn với hai cổng phụ. Điểm nhấn của cổng tam quan chính là những mái ngói âm dương được chế tác bởi tài nghệ khéo léo và tay nghề điêu luyện của các nghệ nhân xưa, càng làm tăng thêm vẻ cổ kính, uy nghiêm cho di tích lịch sử – văn hóa đặc biệt này. Khi bước qua cổng tam quan, chúng sẽ bắt gặp ngay khu nhà văn chỉ, nhà võ chỉ nằm trang trọng giữa hai bên của đền chính, hướng mặt ra phía hồ bán nguyệt. Nhà văn chỉ nằm bên trái khu nội thành, gồm 3 gian, được thiết kế theo lối kiến trúc hai tầng, với hai lớp mái chồng lên nhau. Đây là nơi thờ những quan văn đã có công lớn giúp nhà Lý như: Tô Hiến Thành, Lý Đạo Thành,… Nhà võ chỉ nằm bên phải khu nội thành, có kiến trúc đối xứng và tương tự như nhà văn chỉ. Đây là nơi thờ những quan võ đã có công lớn giúp nhà Lý như: Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc,…
Không chỉ có các cổng tam quan hay các điện thờ quan văn, quan võ, khu vực ngoại thành Đền Đô còn được tô điểm bởi kiến trúc thủy đình độc đáo, nên thơ. Thủy đình các là một tòa nhà có khoảng không thoáng đãng với năm gian riêng lẻ, được xây dựng theo lối kiến trúc cổ điển chồng diêm 8 mái, với 8 đao cong hướng về bốn góc, mềm mại nhưng cũng tráng lệ, uy nghi. Kiến trúc này được xây dựng ở giữa hồ bán nguyệt, nối với đền chính bằng chiếc cầu đá thơ mộng, cong cong. Vật liệu để xây dựng lên thủy đình chính là gỗ lim – một trong bốn loại gỗ quý nhất ở Việt Nam. Mỗi một cột gỗ được dựng lên đều được chạm khắc hoa văn tinh xảo. Vào thời kỳ Pháp thuộc, nhà thủy đình này đã từng được Ngân hàng Đông Dương chọn là hình ảnh in trên giấy bạc năm đồng vàng. Tương truyền rằng, thủy đình là nơi để các chức sắc xưa kia ngồi xem biểu diễn rối nước. Tuy nhiên, theo dòng chảy của thời đại, thủy đình các giờ đây đã trở thành không gian sinh hoạt văn hóa của người dân nơi đây với những làn điệu dân ca Quan họ trọng nghĩa, trọng tình.
Bên cạnh kiến trúc ngoại thành, kiến trúc nội thành của Đền Đô được bài trí tinh xảo, theo lối cổ truyền phương Đông chính là “nội công ngoại quốc”, bao gồm các công trình: ngũ long môn, chính điện, nhà chuyền bồng và nhà bia. Ngũ long môn là cổng chính dẫn vào nội thành, sở dĩ có tên gọi như vậy bởi trên hai cánh cổng có chạm khắc hình năm con rồng rất tinh xảo, sống động, thể hiện sự uy nghiêm và quyền năng tối cao của các vị vua triều Lý. Phía mạn trái của chiếc cổng này chính là bức cuốn thư “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Cuốn thư này cao 3.5 m, rộng hơn 8 m, được coi là bức cuốn thư bằng gốm Bát Tràng lớn nhất Việt Nam. Tương ứng với đó, phía bên phải chính là bài thơ “Nam quốc sơn hà” hào hùng nổi tiếng – bài thơ được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta của thái úy Lý Thường Kiệt.
Từ ngũ long môn đi vào bên trong là khu vực của chính điện rộng rãi, bao gồm: Phương đình hay còn gọi là nhà vuông, nhà Tiền tế và Cổ pháp điện. Phương đình được xây dựng trên khoảng sân rồng, với kiến trúc 3 gian, 8 mái. Trước Phương đình là một lư hương lớn, hai bên có tượng voi phục hổ chầu, thể hiện khí chất của bậc quân vương. Nằm ở phía sau Phương đình là nhà Tiền tế gồm bảy gian, đây nơi tế lễ các vị vua vào những ngày giỗ hoặc dịp lễ hội và thờ vua Lý Thái Tổ – người đã có công khai sinh ra vương triều Lý hưng thịnh, vững bền. Gian giữa tiền tế được đặt tượng cấm vệ quân triều Lý vô cùng sống động, uy nghiêm. Phía trong cùng là Cổ Pháp điện với bảy gian lớn, rộng khoảng 180m2. Mỗi gian đặt một ngai thờ, bài vị và tượng một vị vua. Đặc biệt, gian chính giữa đặt tượng vua Lý Thái Tổ và con trai trưởng là vua Lý Thái Tông, tượng trưng cho hình thức cha truyền con nối của vua chúa phong kiến Việt Nam xưa.
Từ gian chính điện sang hai bên chính là khu vực nhà chuyền bồng và nhà bia của quần thể kiến trúc. Nhà chuyền bồng được xây dựng theo kiến trúc kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại, bao gồm nhà để kiệu thờ và nhà để ngựa thờ. Đây nơi đặt ban Công Đồng, tương tự như ban Tam Bảo ở chùa. Đây là nơi người dân, du khách đến dâng hương, lễ bái. Phía Đông của đền có nhà bia, nơi đặt Cổ Pháp Điện Tạo Bi – tấm bia do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan biên soạn, ghi lại sự kiện vua Lê Kính Tông xây dựng lại đền và khắc ghi công đức của các vị vua triều Lý. Được khắc dựng năm 1605, có chiều dài 17 cm, rộng 103 cm và cao 190 cm, tấm bia này được chạm khắc tinh xảo, trán bia có hình lưỡng long chầu nguyệt, mặt trăng chạm nổi, có các tia hào quang tỏa chiếu xung quanh. Theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ, lòng bia được khắc 35 dòng chữ Hán xen kẽ một số chữ Nôm, tổng cộng khoảng 1500 chữ. Tuy nhiên theo thời gian và chiến tranh tàn phá, tấm bia đã bị hư hại, những họa tiết và chữ khắc trên bia cũng đã phai mờ.
Đền Đô được xem là một di tích lịch sử – văn hóa đặc biệt và còn được bảo tồn, tu sửa đến ngày nay chính là vì những dấu ấn đặc biệt trong dòng chảy lịch sử tạo ra những nét đặc thù riêng của ngôi đền linh thiêng đó. Theo các tích xưa, nơi Đền Đô tọa lạc chính là làng Cổ Pháp – mảnh đất thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, nơi sinh ra vua Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của triều Lý sau này. Cũng chính vì thế, khi vua Lý Thái Tông trong một dịp về quê làm giỗ cha, ông đã lệnh cho người xây dựng đền Đô làm nơi thờ phụng cha trên nền ngôi đình cũ xưa. Trải qua ngót nghét gần một thiên niên kỷ, nơi đây đã trở thành chứng tích cho triều đại nhà Lý – một trong những vương triều thịnh vượng nhất trong lịch sử phong kiến của nước ta, và là nơi thờ tự của vương triều Lý sau này. Vậy nên, cứ vào dịp 15/3 âm lịch hàng năm, nơi đây lại diễn ra một trong những lễ hội lớn nhất xứ Kinh Bắc – lễ hội Đền Đô nhằm tưởng nhớ công lao và ân đức của các vị vua triều Lý, đồng thời làm đẹp thêm truyền thống văn hóa vẻ vang của xứ Kinh Bắc địa linh nhân kiệt.
Là một chứng nhân của lịch sử, vậy nên những giá trị lịch sử mà Đền Đô mang lại là vô cùng quý giá. Đền Đô gắn liền với triều đại nhà Lý, mang dấu ấn to lớn gắn liền với “Chiếu dời đô”, mở ra thời kỳ độc lập, cho nước ta, thoát khỏi ách đô hộ của giặc phương Bắc. Hiện tại, nơi đây còn lưu giữ nhiều văn vật, hiện vật từ các triều đại phong kiến xa xưa, có giá trị nghiên cứu trong ngành khảo cổ học của nước nhà. Không chỉ có giá trị về mặt lịch sử, nơi đây còn lưu giữ và cất chứa những giá trị về văn hóa – giáo dục. Đền Đô là nơi hội tụ nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc, đặc biệt là người dân xứ Kinh Bắc như: làn điệu dân ca Quan họ Bắc Ninh, các trò chơi dân gian, lễ hội truyền thống, nghệ thuật thư pháp cổ truyền. Bên cạnh đó, đây cũng là một điểm đến lý tưởng cho việc học tập và nghiên cứu lịch sử, đồng thời góp phần giáo dục các thế hệ sau về truyền thống, lòng biết ơn và tôn kính tổ tiên, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.Từ những giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục và tâm linh đặc sắc, kết hợp với dòng chảy của thời đại, Đền Đô giờ đây đã trở thành là một điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. Sự phát triển du lịch tại Đền Đô góp phần quan trọng vào nền tảng kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân tại nơi này.
Nhờ có những giá trị, vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống của dân tộc và cộng đồng, hiện nay, Đền Đô đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia hạng đặc biệt, vậy nên các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của Đền Đô luôn được người dân địa phương và chính quyền các cấp quan tâm. Các hạng mục, công trình trong khuôn viên của đền vẫn luôn được trùng tu, nâng cấp và bảo dưỡng hàng năm để tránh xảy ra tình trạng mối mọt. Tuy nhiên, trong các dịp lễ, khi lượng du khách đổ về để vãn cảnh và thăm thú quá đông, Đền Đô rất dễ gây ra tình trạng chen lấn, xô đẩy, gây mất cảnh quan trong đền và dẫn đến xảy ra các nguy cơ hỏng hóc các văn vật, hiện vật quý. Chính vì vậy, cần nâng cao hơn nữa vai trò quản lý của địa phương, nhấn mạnh việc phát triển kinh tế phải đi đôi song hành với việc bảo tồn di sản để di tích được lâu bền.
“Đền Đô kiến trúc tuyệt vời,
Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm”
Gần 1000 năm trải qua bao thăng trầm, biến thiên lịch sử, Đền Đô vẫn còn đó uy nghi, sừng sững như một minh chứng bất diệt cho lịch sử và văn hóa hào hùng của dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của đền Đô không chỉ góp phần gìn giữ di sản văn hóa, mà còn đang thúc đẩy kinh tế, xã hội đi lên. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần có trách nhiệm bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Là một học sinh, tôi luôn tích cực tham gia các hoạt động để bảo tồn di sản, đồng thời luôn tìm hiểu về các di tích lịch sử để hiểu rõ về cội nguồn của dân tộc, quê hương.
