Em hãy viết bài văn phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ sau:
TẾT QUÊ BÀ
Bà tôi ở một túp nhà tre,
Có một hàng cau chạy trước hè,
Một mảnh vườn bên rào giậu nửa.
Xuân về hoa cải nở vàng hoe.
Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.
(Đoàn Văn Cừ – Nguồn: Đoàn văn Cừ toàn tập, NXB Hội nhà văn, 2013)
Dàn ý chi tiết
Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm, và nêu ý kiến chung của người viết về bài thơ
Gợi ý:
– Nhà thơ Đoàn Văn Cừ (1913 – 2004) là một nhà thơ có phong cách đặc biệt viết về nông thôn.
– Bài thơ Tết quê bà đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên về hình ảnh ngôi nhà của người bà và Tết cổ truyền của dân tộc, khiến ai đọc cũng bồi hồi cảm xúc.
Thân bài
* Tập trung nêu nội dung, chủ đề và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ.
Khái quát về bài thơ:
- Thể loại của bài thơ: thể thơ bảy chữ, cả bài thơ gồm tám câu thơ ngắn gọn.
- Chủ đề:
- Bài thơ Tết quê bà miêu tả, biểu cảm về ngôi nhà giản dị, quen thuộc của bà nơi làng quê yên bình và cảnh ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
- Tình cảm yêu mến, gắn bó với con người, cảnh vật, ngày Tết cổ truyền của dân tộc.
- Nhắc nhở người đọc phải biết trân trọng, giữ gìn những vẻ đẹp bình dị ấy, đặc biệt là nét đẹp văn hoá ngày Tết cổ truyền của dân tộc.
Làm rõ nội dung, chủ đề bài thơ:
+ Hình ảnh ngôi nhà của bà: túp lều tre, hàng cau trước nhà, 1 mảnh vườn, hoa cải…=> cuộc sống nghèo, bình dị =>tình cảm yêu thương, trân trọng pha lẫn chút xót xa của đứa cháu trước hoàn cảnh sống của bà.
+ Cuộc sống nghèo, mảnh vườn nhỏ nhưng không gợi sự heo hút, buồn vắng mà biểu thị một sắc màu tươi vàng của rau cải vườn nhà. “Xuân về hoa cải nở vàng hoe” một cuộc sống đời thường thanh đạm, quen thuộc, gần gũi.
=> Gợi hình ảnh người bà tần tảo, cần cù, chịu thương, chịu khó và đảm đang, tháo vát, gọn gàng.
+ Cảnh Tết đến xuân về: là những hình ảnh quen thuộc, đặc trưng của ngày Tết: gạo nếp, bánh chưng, quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn, cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.
=>Khung cảnh ngày Tết: tấp nập, đông vui, ấm cúng, tràn ngập niềm vui và và rực rỡ sắc màu.
=> Nhắc nhở người đọc phải biết trân trọng, giữ gìn những vẻ đẹp bình dị ấy, đặc biệt là nét đẹp văn hoá ngày Tết cổ truyền của dân tộc.
Phân tích tác dụng một số nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ:
- Thể thơ bảy chữ, cách ngắt nhịp và gieo vần tự do, cảm xúc của tự nhiên, trôi chảy.
- Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, giàu sức
- Kết hợp các phương thức biểu đạt kể, tả, biểu cảm làm cho nội dung vừa cụ thể vừa lắng sâu.
- Biện pháp tu từ liệt kê…
Kết bài
Khẳng định lại giá trị của bài thơ. Cảm xúc của cá nhân hoặc bức thông điệp, lời nhắn gửi tới mọi người.
Bài mẫu tham khảo
Trong nền thơ ca Việt Nam, Đoàn Văn Cừ là một cây bút đặc biệt có phong cách viết chân thực, dung dị mà giàu cảm xúc về nông thôn. Những vần thơ của ông thấm đẫm hồn quê, tái hiện những cảnh đời bình yên, chân chất và giàu giá trị truyền thống. Bài thơ Tết quê bà là một trong những sáng tác như thế. Chỉ bằng tám câu thơ ngắn gọn, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh ngôi nhà đơn sơ của người bà cùng không khí Tết cổ truyền đầm ấm, rộn ràng – để lại trong lòng người đọc nhiều dư âm thân thương khó quên.
Bài thơ được viết theo thể thơ bảy chữ, lời thơ ngắn gọn nhưng giàu sức gợi. Tác phẩm mở ra bằng hình ảnh ngôi nhà của bà – một không gian thấm đượm sự bình dị của làng quê Việt Nam:
“Bà tôi ở một túp nhà tre,
Có một hàng cau chạy trước hè,
Một mảnh vườn bên rào giậu nửa.
Xuân về hoa cải nở vàng hoe.”
Chỉ với vài nét phác họa, cảnh vật hiện lên thân thương đến lạ: túp nhà tre đơn sơ, hàng cau chạy dọc trước hè, mảnh vườn nhỏ bên hàng rào mộc mạc. Tất cả đều gợi nên sự nghèo khó, giản dị nhưng lại vô cùng ấm áp. Đặc biệt, hình ảnh “hoa cải nở vàng hoe” khi xuân về không chỉ làm sáng bừng bức tranh quê mà còn gợi cảm giác ấm áp, tươi vui – như chính tấm lòng của người bà tần tảo, chịu thương chịu khó, quanh năm gắn bó với luống rau, vườn nhỏ. Cuộc sống tuy đạm bạc nhưng ngập tràn những sắc màu êm đềm của làng quê Việt Nam.
Nếu bốn câu thơ đầu dựng lên bức tranh quê thanh bình thì bốn câu thơ cuối mở ra khung cảnh Tết truyền thống rộn ràng, ấm áp:
“Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.”
Tác giả đã sử dụng nghệ thuật liệt kê khéo léo những hình ảnh quen thuộc của ngày Tết cổ truyền: bánh chưng, nếp thơm, than hồng, tranh gà lợn, dưa hành, thịt mỡ… Tất cả hiện lên sinh động, đầy sắc màu và hương vị. Đó là những biểu tượng văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt, khơi dậy trong mỗi chúng ta cảm giác háo hức, thiêng liêng khi Tết đến. Câu thơ “Cả đêm cuối chạp nướng than hồng” như đưa người đọc trở về không gian ấm cúng bên bếp lửa đỏ rực – nơi gia đình quây quần, chờ từng nồi bánh chưng chín. Đó là khoảnh khắc thiêng liêng, đánh thức biết bao ký ức đẹp đẽ trong trái tim mỗi người.
Không chỉ gợi lên những hình ảnh Tết rộn ràng, đoạn thơ còn gửi gắm một tình cảm sâu nặng của cháu dành cho bà, của con người dành cho quê hương, xứ sở. Cảnh vật và lễ Tết tuy bình dị nhưng chất chứa tình cảm yêu thương, sự trân quý với nếp sống truyền thống của dân tộc Việt Nam. Qua đó, tác giả nhắc nhở mỗi chúng ta phải gìn giữ, trân trọng nét đẹp văn hóa ấy, đặc biệt trong thời đại hiện nay – khi nhiều giá trị truyền thống dễ bị lãng quên.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ sử dụng thể thơ bảy chữ giàu nhạc điệu; hình ảnh chân thực, gần gũi; giọng thơ ấm áp, mộc mạc; kết hợp khéo léo các phương thức biểu đạt kể – tả – biểu cảm. Đặc biệt, biện pháp liệt kê và hình ảnh cụ thể đã tạo nên một bức tranh Tết vừa rộn ràng, vừa đậm đà bản sắc. ”Tết quê bà” là bài thơ không chỉ đẹp về hình tượng nghệ thuật mà còn giàu giá trị nội dung. Bài thơ giúp ta sống lại những khoảnh khắc êm đềm của Tết xưa, gợi lại hình ảnh người bà tần tảo, mộc mạc mà ai cũng kính yêu. Quan trọng hơn, tác phẩm khẳng định tình cảm gia đình và nét đẹp truyền thống của dân tộc là những giá trị vô cùng quý báu, cần được lưu giữ và trân trọng.
Đọc xong bài thơ, mỗi chúng ta như được trở về tuổi thơ, trở về với bếp lửa nhà bà, với sắc vàng của hoa cải và tiếng nồi bánh chưng sôi trong đêm cuối chạp. Đó là những vẻ đẹp mộc mạc nhưng bền vững – nuôi dưỡng tâm hồn ta trong suốt hành trình cuộc sống.