Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến.
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi!
Dàn ý chi tiết
Mở bài
– Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam.
– Thơ ông đặc sắc, mang nhiều giọng điệu, khi nhẹ nhàng tâm tình, khi bình dị trong trẻo, lúc đằm thắm trữ tình và cả những vần thơ trào phúng thâm thuý, sâu cay.
– Một trong những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Khuyến là Tiến sĩ giấy.
– Bài thơ là tiếng cười chua chát về hiện thực xã hội đương thời.
Thân bài
1. Giới thiệu chung
– Ý nghĩa hình ảnh Tiến sĩ giấy: Nhan đề bài thơ Tiến sĩ giấy vốn để miêu tả một nét đẹp văn hóa của dân tộc ta. Đó là hình nộm bằng giấy cho trẻ em chơi trung thu, giả hình ông tiến sĩ để khơi dậy trẻ em lòng ham học và ý thức theo con đường khoa cử.
– Trong văn bản, “giấy” không chỉ để gợi về chất liệu mà còn khiến người đọc liên tưởng đến tính chất hư danh.
– Đặt tên tác phẩm là Tiến sĩ giấy, Nguyễn Khuyến đã ngụ ý phê phán một cách khéo léo tính chất hư danh của học vị tiến sĩ trong thời buổi Hán học suy tàn, Tây học ngày càng lấn át.
2. Cảm nhận cụ thể nội dung bài thơ
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai
– Ông tiến sĩ được gợi tả rất chi tiết – có “cờ”, có “biển” – tấm biển gỗ in chữ “ân tứ vinh quy”, có “cân đai” – khăn bịt tóc để đội mũ và đai đeo ngang lưng. Tất cả những thứ đó tạo nên y phục của quan lại, quý tộc lớn thời phong kiến.
– Điệp từ “cũng” được nhắc đi nhắc lại đến bốn lần ở đầu mỗi dòng thơ như một lời khẳng định chắc nịch, khiến người đọc không thể nghi ngờ bản chất của đối tượng. Tuy giống nhưng đó không phải là ông tiến sĩ thật, hóa ra đó chỉ là ông tiến sĩ làm bằng giấy để tạo thành đồ chơi cho trẻ con.
– Câu thơ vì thế thoáng chút mỉa mai, châm biếm của tác giả.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
– Tiến sĩ giấy ấy chỉ cần vài mảnh giấy là tạo thành hình dáng, chỉ cần vài ba nét son là tạo nên khuôn mặt của một người đứng đầu làng văn.
– Câu thơ ẩn sâu dưới nghĩa tả thực là nghĩa ẩn dụ. Phải chăng để trở thành một tiến sĩ, có danh khoa bảng sao mà dễ dàng đến thế, chỉ cần vài ba “mảnh giấy” là có thể làm được:
+ Giấy bồi để làm hình dáng gương mặt tiến sĩ.
+ Giấy cũng là tiền giấy bỏ tiền ra mua chức mua quan.
Làm tiến sĩ vì thế thật quá dễ dàng. Đó cũng là một tệ nạn nhan nhản, phố biến đương thời, khi Hán học suy tàn, những kẻ cậy tiền mua danh bán tước.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
– Thời đó, để trở thành tiến sĩ bao nhiêu giọt mồ hôi phải đổ trên trang sách, bao ngày dùi mài kinh sử đánh đổi công sức, tâm huyết, nhưng thời thế thay đổi – tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ.
– Nhẹ – nhẹ nhàng, không cần mất công sức, chỉ cần bỏ tiền mua là có; nhẹ là thiếu đi giá trị – cái danh tiến sĩ không còn khiến người ta nể trọng, kính phục bởi vì mua rất hời, rất dễ.
– Thực trạng đất nước lúc bấy giờ với những thay đổi, việc chọn nhân tài, tệ mua danh bán chức diễn ra phổ biến dẫn đến xuất hiện những kẻ chỉ có hư danh mà không có thực học.
– Những người có tài năng thực sự như tác giả cũng chỉ bằng những kẻ “tiến sĩ giấy” mà thôi.
– Tác giả như vừa châm biếm mỉa mai thực trạng nhố nhăng của xã hội, vừa cười người nhưng để rồi cười chính mình, để xót xa cho chính bản thân và cho cả đất nước.
– Như Trần Tế Xương từng viết:
Lẳng lặng mà nghe nó chúng sang
Đứa thời mua tước, đứa mua quan.
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.
– Hình ảnh ông tiến sĩ giấy hiện lên với hành động “ngồi bảnh chọe” gợi dáng vẻ oai vệ cùng lối ăn mặc đầy tính trưng diện, “ghế tréo” và “lọng xanh” oai nghiêm.
– Tác giả thể hiện thái độ của những kẻ dùng tiền mua quan bán chức, không biết mình mà thích thể hiện, ra oai một cách kệch cỡm, đáng khinh thường.
– Thái độ nhà thơ bộc lộ trực tiếp: tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi. Cứ nghĩ là thật nhưng đến đây mới vỡ òa chỉ là một thứ đồ chơi bằng giấy
– Nhà thơ lột tả bản chất trống rỗng, chỉ có hư danh mà không có thực học của những ông nghè có thực trong đời sống. với thái độ khinh thường.
3. Cảm nhận về nghệ thuật văn bản
– Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật vốn trang trọng lại trở nên rất giản dị quen thuộc, gần gũi qua hình ảnh, đề tài mang tính thời sự thể hiện cái nhìn đặc sắc của nhà thơ.
Ngôn ngữ thơ gần với lời ăn tiếng nói thường ngày, mang đậm “chất” văn xuôi, lời nói khẩu ngữ kiểu như: cũng…cũng, kém ai, sao mà nhẹ, ấy mới hời, tưởng rằng…,
– Giọng điệu trào phúng sâu cay, không trực diện mà thâm thuý qua hình ảnh ẩn dụ đặc sắc.
– Các nghệ thuật tu từ góp một phần không nhỏ trong sự thành công của bài thơ.
Kết bài
– Bài thơ Tiến sĩ giấy là một sáng tác thành công của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Tác phẩm khẳng định tài năng và tâm hồn, nhân cách trong sáng của nhà thơ.
– Bài thơ là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo học, học thật, thi thật, thành tích thật – một điều làm nên ý nghĩa của giáo dục mọi thời đại.
Bài mẫu tham khảo
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông mang nhiều sắc thái phong phú: khi trữ tình, sâu lắng; khi giản dị, mộc mạc; và đặc biệt, mảng thơ trào phúng của ông để lại dấu ấn sâu đậm bởi tiếng cười thâm thúy, chua chát trước hiện thực xã hội đương thời. Tiến sĩ giấy là một trong những bài thơ tiêu biểu cho giọng thơ trào phúng ấy, thể hiện thái độ phê phán sâu cay đối với tệ hư danh, mua danh bán chức khi nền Hán học đang trên đà suy tàn.
Ngay từ nhan đề Tiến sĩ giấy, Nguyễn Khuyến đã gợi lên nhiều tầng ý nghĩa. “Tiến sĩ giấy” vốn là hình nộm bằng giấy – một món đồ chơi dân gian thường xuất hiện vào dịp Trung thu, mang ý nghĩa giáo dục, khơi gợi tinh thần hiếu học cho trẻ em. Tuy nhiên, trong bài thơ, chữ “giấy” không chỉ nói về chất liệu mà còn gợi lên sự giả tạo, hư danh, rỗng tuếch. Đặt tên tác phẩm như vậy, nhà thơ đã kín đáo phê phán những ông tiến sĩ chỉ có danh mà không có thực học trong bối cảnh xã hội phong kiến cuối thế kỉ XIX, khi khoa cử mục nát, đồng tiền có thể mua được học vị.
Hai câu thơ đầu mở ra hình ảnh ông tiến sĩ với vẻ ngoài tưởng như rất đàng hoàng, đầy đủ phẩm phục:
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai
Các chi tiết “cờ”, “biển”, “cân đai” đều là những biểu tượng của sự vinh hiển, quyền uy trong xã hội phong kiến. Điệp từ “cũng” được lặp lại bốn lần liên tiếp như một lời khẳng định chắc nịch: ông ta có đủ mọi thứ, chẳng thua kém ai. Thế nhưng, đằng sau sự “đầy đủ” ấy lại là một tiếng cười mỉa mai, bởi đó không phải là một ông nghè thật, mà chỉ là một hình nộm bằng giấy. Cách miêu tả ấy khiến vẻ ngoài tưởng chừng trang nghiêm trở nên kệch cỡm, giả tạo.
Hai câu thực tiếp theo tiếp tục khắc họa bản chất của “ông tiến sĩ” ấy:
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Chỉ cần vài “mảnh giấy” là có thể tạo nên hình hài một tiến sĩ, vài “nét son” là vẽ xong khuôn mặt “văn khôi” – người đứng đầu giới văn chương. Dưới lớp nghĩa tả thực, câu thơ ẩn chứa ý nghĩa châm biếm sâu sắc: để có danh khoa bảng trong xã hội đương thời, dường như không cần thực tài, chỉ cần “giấy” – giấy bồi làm hình nộm, hay xa hơn là giấy tiền để mua danh, mua chức. Học vị tiến sĩ vì thế bị hạ thấp, trở thành thứ dễ dãi, rẻ rúng.
Đến hai câu luận, tiếng cười trào phúng càng thêm cay đắng:
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Xưa kia, để đỗ đạt, người học trò phải “dùi mài kinh sử”, đổ biết bao mồ hôi, công sức. Thế nhưng nay, “tấm thân xiêm áo” lại “nhẹ” đến lạ thường: nhẹ vì không cần lao tâm khổ tứ, nhẹ vì giá trị của học vị đã bị rẻ hóa. Cái danh tiến sĩ giờ đây “mới hời”, tức là quá rẻ, quá dễ mua. Qua đó, Nguyễn Khuyến bộc lộ nỗi xót xa trước thực trạng đất nước: kẻ bất tài nhờ tiền mà có danh, còn người có thực học thì bị đặt ngang hàng với những “tiến sĩ giấy”. Tiếng cười châm biếm ấy vừa là cười đời, vừa là nỗi đau thầm lặng của chính nhà thơ – một người tài năng nhưng bất lực trước thời cuộc.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một hình ảnh giàu sức gợi:
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi!
Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi dáng vẻ oai nghiêm, quyền quý, nhưng tư thế “ngồi bảnh chọe” lại khiến tất cả trở nên lố bịch. Nhà thơ vạch trần bản chất của những kẻ mua quan bán chức: chỉ thích phô trương, ra oai một cách kệch cỡm. Câu thơ cuối như một lời kết luận chua chát: tưởng là đồ thật, hóa ra chỉ là đồ chơi bằng giấy. Qua đó, Nguyễn Khuyến bày tỏ thái độ khinh thường sâu sắc đối với hư danh và những giá trị giả tạo của xã hội đương thời.
Không chỉ thành công về nội dung, Tiến sĩ giấy còn đặc sắc về nghệ thuật. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật vốn trang trọng, nhưng ngôn ngữ lại gần gũi, đời thường, mang đậm chất khẩu ngữ. Giọng điệu trào phúng thâm thúy, hình ảnh ẩn dụ sắc bén và cách dùng điệp từ tài tình đã tạo nên một tiếng cười vừa hài hước, vừa đau xót.
Tóm lại, Tiến sĩ giấy là một bài thơ trào phúng xuất sắc của Nguyễn Khuyến. Tác phẩm không chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật và nhân cách thanh cao của nhà thơ, mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc về đạo học: học phải thật, thi phải thật, thành tích phải gắn liền với thực tài. Thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với nền giáo dục ở mọi thời đại.