Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ sau:
NẰM TRONG TIẾNG NÓI…
(Huy Cận)
Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời.
Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi
Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con.
Tháng ngày con mẹ lớn khôn,
Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha,
Đời bao tâm sự thiết tha
Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ…
(Theo Huy Cận toàn tập (tập 1), NXB Văn học, 1986)
* Chú thích:
Huy Cận (1919- 2005) quê ở Hà Tĩnh, nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập thơ “Lửa thiêng”. Sáng tác của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám thường mang nét sầu não, buồn thương. Còn sau Cách mạng tháng Tám, thơ Huy Cận đã lột xác hoàn toàn, trở nên mới mẻ và tràn đầy sức sống. Các sáng tác của Huy Cận luôn bám sát hiện thực cuộc sống, thời đại.
Bài thơ được sáng tác năm 1942, khi tiếng Pháp là ngôn ngữ chính dùng trong các trường học trên đất nước ta.
Dàn ý chi tiết
Mở bài
* Giới thiệu khái quát
– Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm (nhan đề, tác giả);
– Khái quát chủ đề: Tình yêu tiếng mẹ đẻ, lòng tự hào dân tộc thể hiện qua sự phát hiện và ngợi ca ý nghĩa cao đẹp, thiêng liêng của tiếng Việt.
Thân bài
* Phân tích chủ đề của bài thơ:
– Tiếng Việt gắn bó với con từ khi con còn nằm trong nôi:
+ Chứa đựng tình yêu thương tha thiết của mẹ
+ Mang điệu hồn thiêng liêng của dân tộc, như hiện hữu và tiếp thêm sức mạnh để con lớn khôn
(Dẫn chứng, phân tích)
– Tiếng Việt đồng hành cùng con trên mọi chặng đường đời, giúp con hiểu biết về quá khứ, bồi đắp tâm hồn, kết nối giữa các thế hệ:
+ Qua những vần thơ gợi về lịch sử của cha ông
+ Qua những tâm sự thiết tha của con người trong cuộc sống đời thường
(Dẫn chứng, phân tích)
* Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật:
– Thể thơ lục bát mượt mà, đậm bản sắc dân tộc, phù hợp với việc thổ lộ tình cảm thiết tha trìu mến với ngôn ngữ của dân tộc
– Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị; khai thác chất liệu dân gian, gần gũi với dân ca
– Sáng tạo hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu trưng: tiếng Việt, lòng mẹ, hồn thiêng đất nước, hồn ông cha,… tạo nên chiều sâu triết lí cho lời thơ
– Sử dụng thành công các biện pháp tu từ: nhân hóa, điệp ngữ, ẩn dụ,…
Kết bài
* Khẳng định giá trị của bài thơ; nêu ý nghĩa đối với bản thân và người đọc.
– Là lời tri ân sâu sắc đối với tiếng ru của mẹ nói riêng, tiếng Việt nói chung.
– Thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa trong bối cảnh đất nước thời Pháp thuộc; nhắc nhở ý thức trân trọng, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt…
Bài mẫu tham khảo
Chữ viết, tiếng nói là của cải vô cùng quan trọng và quý giá của bất kỳ dân tộc nào trên thế giới, là niềm tự hào của mỗi dân tộc. Ngày Quốc tế tiếng mẹ đẻ được các quốc gia thành viên UNESCO tổ chức ngày 21/2 hàng năm tại các trụ sở UNESCO nhằm quảng bá sự đa dạng ngôn ngữ, văn hóa và tính đa ngôn ngữ.
Tiếng Việt của dân tộc Việt Nam cũng như vậy. Trước bao thăng trầm và đổi thay của đất nước và đời sống xã hội, tiếng Việt luôn khẳng định được sức sống mãnh liệt của mình, khẳng định được sự giàu đẹp vốn có của nó. Tiếng Việt vẫn thắp trên môi chúng ta mỗi ngày, là thước đo tâm hồn người Việt, là dòng chảy bất tận trong những tác phẩm văn chương, trong lời ca tiếng hát và lời ăn tiếng nói hằng ngày.Viết về Tiếng Việt, nhà thơ Huy Cận bày tỏ tình yêu bằng những câu lục bát mặn nồng:
“Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời
Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi
Hồn thiêng đất nước cùng ngồi bên con
Tháng ngày con mẹ lớn khôn
Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha
Đời bao tâm sự thiết tha
Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ”
Nhà thơ Huy Cận đã khéo léo sử dụng thể thơ lục bát để truyền tải những thông điệp yêu thương cùng những tình cảm của mình. Vốn là thể thơ gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân, được sử dụng rất nhiều sáng tác thi ca của cha ông ta xưa. “Nằm trong tiếng nói yêu thương” được tác giả ví ở đây là nằm trong vòng tay của mẹ, từ lúc còn nằm trong nôi qua những câu hát ru của mẹ, qua những lời yêu thương thủ thỉ tâm tình nuôi con người ta dần lớn và trưởng thành. Tác giả bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với tiếng ru cả mẹ nói riêng và tiếng Việt nói chung. Có thể nói, vốn từ tiếng Việt phản ánh một nét tính cách của dân tộc ta: Mọi thứ đều phải được phân biệt rõ ràng, khúc chiết. Mỗi một ngôn ngữ có một vẻ đẹp riêng và đại diện cho dân tộc mà nó được sinh ra và tồn tại vì dân tộc đó. Tiếng Việt sinh ra vì dân tộc Việt Nam, vì dân tộc Việt Nam mà tồn tại. Không một sự ngợi ca nào có thể đủ tụng ca hết vẻ đẹp của tiếng Việt yêu thương.
Lịch sử nước ta gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước, qua bao đời Tiếng Việt vẫn giữ được vẻ đẹp trong sáng của mình. Nhiều thế hệ vẫn tự hào rằng qua hàng nghìn năm đô hộ nhưng dân tộc ta vẫn giữ được tiếng nói của mình. Nhà thơ Huy Cận cũng bày tỏ lòng biết ơn “Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha”. Bởi tiếng thơ, tiếng của mẹ đã theo tác giả suốt hành trình khôn lớn nên người, nâng niu và nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ.
Tiếng Mẹ đẻ, là ngôn ngữ đầu tiên được đón nhận khi đứa trẻ mới chào đời, đồng thời là bảng màu đa dạng của cộng đồng dân tộc. Nó không chỉ là phương tiện truyền đạt, mà còn là biểu hiện căn bản nhất của văn hóa, lưu giữ toàn bộ thế giới tinh thần và phẩm chất của mỗi dân tộc. Trong thời đại hiện đại, sự mất mát và lạc lõng về tiếng mẹ đẻ xuất hiện, khiến cho ngôn ngữ trở thành dung tục và đôi khi mất đi vẻ đẹp nguyên bản. Điều này không chỉ là sự mất mát cá nhân mà còn là việc tự tước đi “căn cước” văn hóa của chính bản thân và cộng đồng dân tộc. Vì vậy, bảo tồn tiếng mẹ đẻ là trách nhiệm cần thiết để giữ cho bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú.