Đọc bài thơ sau:
QUÊ MÌNH Nguyễn Thế Kỷ
Đưa con về thăm quê
Cha gặp lại mình ngày thơ dại
Mấy dãy ao làng sen còn thơm mãi
Hoa gạo rơi xao xác sân đình
Bến bờ nào cũng dội sông
Dinh Xa ngái (*) nào cũng mơ về núi Gám
(*) Hạt giống đồng chiêm gieo vào tâm khảm
Vẫn xanh tươi góc bể chân trời
Quê mình là vậy đó con ơi
Bát cơm con ăn. Ân tình con gặp
Mùi chua của bùn, vị nồng của đất
Với cha, hơn cả bạc vàng.
Bến bờ nào ông bà dắt con sang
Dòng đục dòng trong, câu thương câu giận
Thương cụ đồ xưa bút nghiên lận đận
Đỗ trạng rồi còn lội ruộng vinh quy
Đất quê mình nâng bước cha đi
Để có con hôm nay trở lại
Như sông suối về nơi biển ấy
Lại góp mưa xanh mát mạch nguồn.
( Nguồn: Thơ Yên Thành, NXB Hội nhà văn , năm 2015, tr 367, 369)
Chú thích: * Nguyễn Thế Kỷ (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1960) là PGS,TS, Nhà văn, Nhà báo quê huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An * Sông Dinh, núi Gám: hai địa danh nổi tiếng ở huyện yên Thành, tỉnh Nghệ An. * Xa ngái (từ địa phương) : rất xa
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Bài thơ viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0,5 điểm). Tìm những hình ảnh về quê hương trong ba khổ thơ đầu?
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong khổ thơ thứ ba ?
Câu 4 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về hai câu thơ sau: Bến bờ nào cũng dội sóng sông Dinh Xa ngái nào cũng mơ về núi Gám
Câu 5 (1,0 điểm). Bài thơ trên gửi đến chúng ta thông điệp gì?
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
Bài thơ “Quê Mình” được viết theo thể thơ tự do, không bị ràng buộc bởi niêm luật, vần điệu cố định, giúp tác giả thể hiện cảm xúc một cách linh hoạt và sâu lắng.
Câu 2 (0,5 điểm)
Những hình ảnh tiêu biểu về quê hương trong ba khổ thơ đầu gồm:
- Ao làng sen thơm
- Hoa gạo rơi xao xác sân đình
- Sông Dinh
- Núi Gám
- Mùi chua của bùn, vị nồng của đất
- Bát cơm con ăn, ân tình con gặp
→ Những hình ảnh này gợi lên vẻ đẹp mộc mạc, thân thương và đầy chất quê của vùng đất Yên Thành.
Câu 3 (1,0 điểm)
Biện pháp tu từ liệt kê trong khổ thơ thứ ba:
Các hình ảnh được liệt kê: “Bát cơm con ăn”, “Ân tình con gặp”, “Mùi chua của bùn”, “Vị nồng của đất”.
Tác dụng:
- Khắc họa rõ nét những giá trị vật chất và tinh thần mà quê hương mang lại.
- Thể hiện sự gắn bó sâu sắc, lòng biết ơn của người cha với nơi chôn rau cắt rốn.
- Tạo nhịp điệu đều đặn, giàu cảm xúc cho lời thơ.
Câu 4 (1,0 điểm)
Hai câu thơ:
“Bến bờ nào cũng dội sóng sông Dinh
Xa ngái nào cũng mơ về núi Gám”
→ Gợi hình ảnh quê hương luôn hiện hữu trong tâm trí, dù đi xa đến đâu, lòng người vẫn hướng về nơi ấy. Sông Dinh và núi Gám trở thành biểu tượng của nỗi nhớ quê, của cội nguồn không thể phai mờ.
Câu 5 (1,0 điểm)
Thông điệp của bài thơ:
- Quê hương là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách, là điểm tựa tinh thần thiêng liêng.
- Mỗi người cần trân trọng, gìn giữ ký ức và giá trị truyền thống của quê hương, bởi đó là mạch nguồn nuôi dưỡng sự sống và tình yêu thương.
BỔ SUNG 4 CÂU HỎI LIÊN QUAN
Câu 6. Tác giả sử dụng hình ảnh “hoa gạo rơi xao xác sân đình” nhằm gợi lên điều gì?
→ Gợi không gian làng quê cổ kính, gắn với ký ức tuổi thơ và sự đổi thay của thời gian.
Câu 7. Vì sao tác giả lại nhấn mạnh “Với cha, hơn cả bạc vàng”?
→ Để khẳng định giá trị tinh thần, tình quê hương vượt lên trên vật chất, là điều thiêng liêng nhất với người cha.
Câu 8. Hình ảnh “cụ đồ xưa bút nghiên lận đận” thể hiện điều gì?
→ Gợi sự trân trọng truyền thống hiếu học, đồng thời phản ánh sự vất vả của người trí thức trong xã hội xưa.
Câu 9. Câu thơ “Lại góp mưa xanh mát mạch nguồn” mang ý nghĩa biểu tượng gì?
→ Biểu tượng cho sự tiếp nối thế hệ, cho việc con cháu trở về, gìn giữ và làm giàu thêm giá trị quê hương.
THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ Nguyễn Thế Kỷ
Nguyễn Thế Kỷ sinh ngày 25 tháng 8 năm 1960, quê ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông là Phó Giáo sư, Tiến sĩ, nhà văn, nhà báo, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Với vốn sống phong phú và tình yêu sâu sắc dành cho quê hương, thơ ông thường mang đậm chất dân gian, giàu cảm xúc và gắn bó với cội nguồn dân tộc. Bài thơ “Quê Mình” là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ đầy chất liệu quê hương và chiều sâu nhân văn của ông.