Đọc hiểu

Đáp án đọc hiểu bài Một thoáng chèo quê tôi

Tìm hiểu tác giả tác phẩm

Tác giả: Vũ Hữu Sự

  • Vũ Hữu Sự là một nhà báo, nhà văn Việt Nam đương đại, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực báo chí, phóng sự, bút ký và ghi chép đời sống xã hội.
  • Ông có phong cách viết chân thực, giản dị nhưng sâu sắc, thường khai thác những vấn đề văn hóa – con người – làng quê Việt Nam với cái nhìn nhân văn và trân trọng giá trị truyền thống.
  • Các tác phẩm tiêu biểu: Một thoáng chèo quê tôi, Những nẻo đường đời thường, Ghi chép vùng đồng bằng Bắc Bộ,…

Tác phẩm: “Một thoáng chèo quê tôi”

  • Thể loại: Phóng sự (ghi chép, bút ký mang yếu tố tự sự – miêu tả – biểu cảm).
  • Nguồn trích: In trong tập Muôn mặt đời thường (Nhiều tác giả), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001.
  • Đề tài: Nghệ thuật chèo truyền thống – một loại hình sân khấu dân gian đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
  • Nội dung chính:
    Tác phẩm thể hiện tình yêu, niềm tự hào và nỗi tiếc nuối của tác giả đối với nghệ thuật chèo – nét đẹp tinh thần đặc sắc của người dân quê Thái Bình nói riêng và người Việt Nam nói chung. Qua hình ảnh người dân làng say mê hát chèo, nhân vật chị Thuyên, cô đào Đào Sương Nguyệt…, tác giả khắc họa vẻ đẹp mộc mạc, chân thành và nhân văn của văn hóa dân gian, đồng thời bày tỏ nỗi trăn trở trước sự mai một của truyền thống trong đời sống hiện đại.
  • Ý nghĩa:
    Văn bản gợi nhắc người đọc trân trọng và gìn giữ di sản văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng tình yêu đối với nghệ thuật truyền thống – hồn cốt của quê hương, đất nước.

Đọc hiểu bài Một thoáng chèo quê tôi

Khi tôi lớn lên, chèo sân đình đã vắng bóng. Các đoàn chèo từ Trung ương đến hàng xã đều diễn chèo trên sân khấu ba mặt (vốn là sản phẩm của kịch phương Tây) và những kịch bản chèo cổ đã được chỉnh lí, biên soạn lại khá công phu dưới ngòi bút của những nhà viết chèo tầm cỡ như Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Bùi Đức Hạnh,… nhưng vẫn còn lưu dấu trong những buổi đội chèo làng luyện tập,… Cơm tối xong, tiếng trống vừa nổi lên cùng với điệu “vỡ nước” náo nức, là chúng tôi ùa ra sân hợp tác. Già trẻ, gái trai đã vây kín thành vòng tròn quanh các diễn viên (toàn là người làng cả).

Hồi ấy chưa có điện, ánh sáng của những buổi tập ấy chủ yếu là ánh trăng hay đèn “hoa kì” (đèn “măng sông” chỉ hôm diễn chính mới được thắp). Ông chủ nhiệm hợp tác xã chĩnh chện trên chiếc ghế đẩu, chân kẹp trống, tay lăm lăm dùi. Ông ngồi cầm chầu, trực tiếp chấm… cộng điểm cho các diễn viên – xã viên của mình. Diễn viên lúc ấy có người mới tất tả chạy ra, mặt còn đỏ lựng vì đun mải cho xong nồi cám lợn. Diễn viên tập, còn “đạo diễn”? Ngoài ông đội trường vốn là một trùm hát ngày trước, còn là… toàn thể người xem. […]

Người hát chèo hay nhất ở quê tôi hồi ấy là chị Thuyên (bây giờ, dẫu đã teo tóp ở tuổi 55 do gánh gia đình quá nặng, chị hát vẫn rất nền . Chị chuyên đóng vai nữ lệch . Hôm nào đi tập chị cũng đi muộn nhất. Có lần ra đến sân kho, quần còn vo quá gối. […]

Chị Thuyên nghèo lắm. Năm ngoài hai mươi, chị đã ba con. Vợ chồng tất bật, lam lũ. Những lúc vất vả quá, chị hay thở dài, bảo tôi:

– Em này, ước gì mà cuộc đời nó cũng như là… chiếu chèo ấy nhỉ?

Tôi chỉ biết ngẩn ngơ. Vâng! Ước gì… Bao nhiêu là nhân tình thế thái. Bao nhiêu là số phận đã diễn ra trên những chiếu chèo quê tôi… Ở đó, người nghèo khổ được gặp Tiên, gặp Phật. Cô gái mò cua trở thành hoàng hậu, còn chàng trai nghèo dắt mẹ đi ăn mày thì đỗ trạng nguyên. Ở đó ân oán phân minh, nghĩa tình trọn vẹn… […]

Vùng tôi là quê hương của những “chiếng”  chèo Nam. Thời trước, mỗi tỉnh có một hay nhiều “chiếng” chèo riêng: “Chiếng” chèo Đông của Hải Dương, “chiếng” chèo Đoài của Sơn Tây, “chiếng” chèo Bắc của Bắc Ninh. Mỗi “chiếng” có sở trường riêng, có những “ngón nghề” riêng, người sành chèo chỉ cần nhìn qua lối diễn là có thể gọi ngay ra được tên “chiếng”. Diễn viên bình thường chỉ diễn được trong “chiếng” của mình. Những người nhập vào “chiếng” nào cũng diễn được, lại diễn hay, được gọi là “nghệ nhân Tứ “Chiếng””. Số nghệ nhân đó thật hiếm hoi. Ở những “chiếng” chèo Nam, cho đến giờ, người ta vẫn kể chuyện về cô đào Đào Sương Nguyệt. Cô nhập vào “chiếng” nào là “chiếng” đó khởi sắc hẳn lên. Đào Nguyệt nổi danh với những vai “nữ chính” Thị Kính, Thị Phương,… và còn nổi danh với cả vai… Trương Phi trong tuồng Bắc. […]

Nhưng rồi về sau, chẳng ai biết kết cục của cô đào tài danh ấy ra sao? Vốn là người mê chèo, từ ngày trở thành một nhà báo chuyên nghiệp, tôi đã cố công đi tìm tung tích cô, nhưng tôi đã hoài công… Tên của cô chỉ còn lưu lại trong kí ức của những nghệ nhân dân gian lớp trước…

Chèo, đó chính là đặc trưng cho tính cách tâm hồn của người quê tôi. Những làn điệu, những vai chèo bất chấp mọi biển thiên, thăng trầm của xã hội, vẫn cứ màu mỡ, cứ xanh tươi như đồng đất Thái Bình.

(Vũ Hữu Sự, Một thoáng chèo quê tôi, in trong tập phóng sự Muôn mặt đời thường (Nhiều tác giả), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001, tr. 109 – 116)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 2. Văn bản có sự kết hợp của những phương thức biểu đạt chủ yếu nào?

Cầu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của những câu văn miêu tả trong văn bản.

Câu 4. Phân tích tác dụng của yếu tố phi hư cấu trong văn bản trên.

Câu 5. Chi tiết (sự kiện, nhân vật, hình ảnh, câu văn) nào của văn bản để lại ấn tượng đặc biệt đối với anh / chị? Vì sao?

Hướng dẫn giải chi tiết

Câu 1.

Văn bản viết về đề tài nghệ thuật sân khấu truyền thống (chèo) của dân tộc.

Câu 2.

Văn bản có sự kết hợp của các phương thức biểu đạt chủ yếu: tự sự, miêu tả, biểu cảm.

Câu 3.

– Có thể dẫn ra một số câu văn miêu tả trong văn bản như:

+ Cơm tối xong, tiếng trống vừa nổi lên cùng với điệu “vỡ nước” nao nức, là chúng tôi ùa ra sân hợp tác. Già trẻ, gái trai đã vây kin thành vòng tròn quanh các diễn viên (toàn là người làng cá).

+ Ông chủ nhiệm hợp tác xã chĩnh chện trên chiếc ghế đẩu, chân kẹp trống, tay lăm lăm dùi.

+ Diễn viên lúc ấy có người mới tất tả chạy ra, mặt còn đỏ lựng vì đun mải cho xong nồi cám lợn.

– Những câu văn trên nhằm khắc họa và tái hiện một cách sống động, hình ảnh về những đêm hát chèo của làng quê trước đây.

Câu 4.

– Những yếu tố phi hư cấu của văn bản là sự việc, con người, địa danh, thời gian, không gian, số liệu,… Ví dụ: những buổi tối tập hát chèo ở làng quê của tỉnh Thái Bình; tên các nhà viết chèo nổi tiếng Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Bùi Đức Hạnh; diễn viên là ông chủ nhiệm hợp tác xã và các xã viên; những chiếng chèo riêng của mỗi vùng quê,…

– Tác dụng của những yêu tô phi hư câu nhằm cung cấp những cứ liệu xác thực cụ thể để có sức thuyết phục và giúp người đọc hình dung đầy đủ về nghệ thuật chèo truyền thống từng phát triển rực rỡ, gắn bó máu thịt với mỗi người dân ở làng quê, nhưng giờ đây chỉ còn “vang bóng một thời”.

Câu 5.

HS tự do bày tỏ về chi tiết mà bản thân thấy ấn tượng nhưng cần lí giải thuyết phục.

Câu hỏi mở rộng từ tác phẩm

Câu hỏi về nội dung – tư duy – cảm nhận

Câu 1. Theo anh/chị, tác giả viết Một thoáng chèo quê tôi nhằm mục đích gì?

Câu 2. Hình ảnh “chiếu chèo quê tôi” gợi cho anh/chị những cảm xúc và suy nghĩ như thế nào về đời sống văn hóa làng quê Việt Nam?

Câu 3. Nhân vật chị Thuyên có ý nghĩa gì trong việc thể hiện tư tưởng, cảm xúc của tác giả?

Câu 4. Vì sao tác giả lại gọi nghệ thuật chèo là “đặc trưng cho tính cách tâm hồn của người quê tôi”?

Câu 5. Anh/chị có nhận xét gì về thái độ, tình cảm của tác giả đối với nghệ thuật chèo qua toàn văn bản?

Câu hỏi liên hệ – vận dụng

Câu 1. Từ văn bản, anh/chị hãy liên hệ đến một loại hình nghệ thuật dân gian khác (tuồng, cải lương, quan họ, ca trù, ví giặm, hát bội,…) mà anh/chị biết để thấy rõ giá trị văn hóa dân tộc trong đời sống hôm nay.

Câu 2. Theo anh/chị, lớp trẻ ngày nay nên làm gì để bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống?

Câu 3. Hãy liên hệ cảm xúc của tác giả trong Một thoáng chèo quê tôi với tình yêu quê hương, văn hóa dân tộc mà anh/chị từng bắt gặp trong một tác phẩm khác (ví dụ: Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm; Ca dao về làng quê Việt Nam,…).

Câu 4. Trong thời đại công nghệ số, nghệ thuật truyền thống như chèo có còn “đất sống” không? Anh/chị có suy nghĩ gì?

Câu 5. Nếu được chọn giới thiệu một nét đẹp văn hóa quê hương mình cho bạn bè quốc tế, anh/chị sẽ chọn gì và giới thiệu như thế nào?

Câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Câu 1. Văn bản Một thoáng chèo quê tôi viết về:
A. Nghệ thuật cải lương Nam Bộ
B. Nghệ thuật tuồng cổ
C. Nghệ thuật chèo truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ
D. Nghệ thuật múa rối nước
→ Đáp án đúng: C

Câu 2. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là:
A. Nghị luận và thuyết minh
B. Tự sự, miêu tả và biểu cảm
C. Miêu tả và giải thích
D. Thuyết minh kết hợp nghị luận
→ Đáp án đúng: B

Câu 3. Hình ảnh “chị Thuyên” trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?
A. Người phụ nữ quê hương yêu đời, yêu nghệ thuật dù nghèo khổ
B. Nghệ sĩ chuyên nghiệp thành công trong sự nghiệp
C. Người nghệ nhân của đoàn chèo Trung ương
D. Cô đào nổi tiếng thời hiện đại
→ Đáp án đúng: A

Câu 4. Cụm từ “chiếu chèo quê tôi” trong văn bản gợi lên điều gì?
A. Sự sang trọng của nghệ thuật dân gian
B. Không gian diễn xướng giản dị, đậm đà hồn quê
C. Sân khấu hiện đại hóa của nghệ thuật chèo
D. Tinh thần đấu tranh của người nông dân
→ Đáp án đúng: B

Câu 5. Theo tác giả, nghệ thuật chèo là “đặc trưng cho tính cách tâm hồn của người quê tôi” vì:
A. Nó mang tính hiện đại và hội nhập cao
B. Nó phản ánh tâm hồn hồn hậu, nhân ái, lạc quan của người dân quê
C. Nó là hình thức giải trí duy nhất ở nông thôn
D. Nó chỉ tồn tại ở vùng Thái Bình
→ Đáp án đúng: B

 

Author and Work Overview

Author: Vũ Hữu Sự

Vũ Hữu Sự is a contemporary Vietnamese journalist and writer, primarily active in journalism, reportage, essays, and writings that capture social life.

His writing style is truthful, simple yet profound, often exploring themes of culture – people – and Vietnamese rural life with a humanistic perspective and a deep respect for traditional values.

Representative works: Một thoáng chèo quê tôi (A Glimpse of My Homeland’s Chèo), Những nẻo đường đời thường (The Paths of Everyday Life), Ghi chép vùng đồng bằng Bắc Bộ (Notes from the Northern Delta Region), etc.

Work: “Một thoáng chèo quê tôi” (A Glimpse of My Homeland’s Chèo)

Genre: Reportage (notes and essays combining narrative – description – and expression).

Source: Extracted from the collection Muôn mặt đời thường (Faces of Everyday Life, Multiple authors), Women’s Publishing House, Hanoi, 2001.

Theme: Traditional Chèo art – a form of folk theatre typical of the Northern Delta region.

Main content:
The work expresses the author’s love, pride, and regret toward chèo art – a distinctive spiritual beauty of the people of Thái Bình in particular and of Vietnamese culture in general. Through images of villagers passionately performing chèo, the characters Sister Thuyên, actress Đào Sương Nguyệt, etc., the author depicts the rustic, sincere, and humanistic beauty of folk culture, while expressing concern for the fading of traditions in modern life.

Meaning:
The text reminds readers to cherish and preserve national cultural heritage, nurturing a love for traditional art – the spiritual essence of the homeland and nation.

Reading Comprehension of the text “A Glimpse of My Homeland’s Chèo”

When I grew up, the village courtyard chèo had faded away. The chèo troupes, from the Central level down to the communes, all performed on three-sided stages (which were originally products of Western theater), and the old chèo scripts had been carefully revised and rewritten by such talented playwrights as Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Bùi Đức Hạnh,… yet traces of it still remained in the village chèo teams’ rehearsals,… After dinner, as soon as the drumbeats began to sound along with the eager rhythm of the “vỡ nước” tune, we would rush to the cooperative’s yard. Old and young, men and women gathered in a circle around the performers (all of them were villagers).

At that time, there was no electricity, and the light during those rehearsals mainly came from the moon or “hoa kì” lamps (the “măng sông” lamp was only lit on the main performance night). The cooperative’s chairman sat proudly on a small stool, his leg clamping the drum, his hand firmly holding the drumstick. He sat as the master of the drum, directly scoring points for the performers—his fellow cooperative members. Some performers came running out, their faces still flushed red from hurrying to finish boiling pig feed. The performers rehearsed, but who was the “director”? Besides the team leader—once a famous singer—it was… the entire audience. […]

The best chèo singer in my village back then was Sister Thuyên (now, though shriveled at the age of fifty-five due to the heavy burden of family life, she still sings with deep resonance). She specialized in playing “female clown” roles. Every rehearsal, she was always the last to arrive. There were times when she came to the barnyard with her pants still rolled up to her knees. […]

Sister Thuyên was very poor. In her early twenties, she already had three children. She and her husband toiled and struggled endlessly. Whenever life became too hard, she would sigh and tell me:

– Hey, I wish life were just like… the chèo mat, you know?

I could only stare blankly. Yes! If only… So much human love and fate had played out on those village chèo mats… There, the poor met fairies and Buddhas. The girl who caught crabs became a queen, and the poor young man who begged with his mother passed the imperial exam and became a mandarin. There, justice was clear, and affection complete… […]

My region is the homeland of the “southern chèo troupes.” In the past, each province had one or several distinct chèo troupes: the “Eastern troupe” of Hải Dương, the “Western troupe” of Sơn Tây, the “Northern troupe” of Bắc Ninh. Each troupe had its own strengths, its own signature performance styles—experts could tell a troupe’s name just by observing a performance. Ordinary performers could only act within their own troupe. Those who could join any troupe and perform well were called “Artists of the Four Troupes.” Such artists were exceedingly rare. In the southern chèo troupes, even now, people still tell stories about the famous actress Đào Sương Nguyệt. Wherever she joined, that troupe would suddenly flourish. Đào Nguyệt was renowned for her “leading lady” roles such as Thị Kính, Thị Phương,… and even for portraying… Trương Phi in northern opera. […]

But later on, no one knew what became of that talented actress. Being a lover of chèo, ever since I became a professional journalist, I have tried hard to trace her whereabouts—but all in vain… Her name remains only in the memories of the old folk artists of the past generations…

Chèo—that is the true emblem of my homeland’s soul and character. Its melodies and roles, despite all the storms and upheavals of society, remain as rich and verdant as the fertile fields of Thái Bình.

(Vũ Hữu Sự, “A Glimpse of My Hometown Chèo,” from the reportage collection “Many Faces of Everyday Life” (Various Authors), Vietnam Writers’ Association Publishing House, Hanoi, 2001, pp. 109–116)

Detailed Answer Key

Question 1.
The text is about the traditional folk theatre art of chèo in Vietnam.

Question 2.
The text combines the main expressive methods of narration, description, and expression.

Question 3.
– Some descriptive sentences in the text include:

  • “After dinner, as the drumbeat rose with the joyful rhythm of ‘vỡ nước,’ we rushed to the cooperative yard. Old and young, men and women crowded into a circle around the performers (all of them villagers).”
  • “The cooperative chairman sat firmly on a small stool, legs gripping the drum, stick in hand.”
  • “Some actors hurriedly ran out, their faces still flushed from tending the pig-feed pot.”

– These sentences vividly portray and recreate the lively image of rural chèo nights of the past.

Question 4.
– Nonfictional elements in the text include real events, people, locations, time, space, and data. For example: evening chèo rehearsals in rural Thái Bình; famous chèo writers such as Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Bùi Đức Hạnh; the cooperative chairman and members as performers; various local chèo troupes (“chiếng chèo”) in different provinces, etc.

– The use of nonfictional elements provides authentic, concrete evidence, lending persuasiveness and helping readers visualize the once-thriving traditional chèo art that was intimately tied to rural life, but now remains only a nostalgic memory of the past.

Question 5.
Students may freely express which detail impressed them most, but must provide logical and convincing reasoning.

Extended Questions from the Work

Questions on Content – Thinking – Interpretation

Question 1. According to you, what is the author’s purpose in writing A Glimpse of My Homeland’s Chèo?

Question 2. What feelings and thoughts does the image of “the village chèo mat” evoke for you about the cultural life of Vietnamese rural villages?

Question 3. What is the significance of the character Sister Thuyên in expressing the author’s ideas and emotions?

Question 4. Why does the author describe Cheo art as “a distinctive trait of the soul and character of my homeland’s people”?

Question 5. What can you say about the author’s attitude and feelings toward chèo art throughout the text?

Questions on Connection – Application

Question 1. From the text, connect to another form of Vietnamese folk art (such as tuồng, cải lương, quan họ, ca trù, ví giặm, hát bội, etc.) you know, to better understand the cultural value of national art in today’s life.

Question 2. In your opinion, what should young people today do to preserve and promote traditional art forms?

Question 3. Relate the author’s emotions in A Glimpse of My Homeland’s Chèo to the love for homeland and national culture found in another work (for example: Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm; Vietnamese folk songs about village life, etc.).

Question 4. In the digital age, does traditional art such as chèo still have a “place to live”? What are your thoughts?

Question 5. If you could introduce one cultural beauty of your homeland to international friends, what would you choose, and how would you present it?

Multiple-Choice Questions

Question 1. The text A Glimpse of My Homeland’s Chèo is about:
A. Southern cải lương art
B. Classical tuồng theatre
C. Traditional chèo art of the Northern Delta
D. Water puppet theatre
→ Correct answer: C

Question 2. The main expressive method used in the text is:
A. Argumentation and exposition
B. Narration, description, and expression
C. Description and explanation
D. Exposition combined with argumentation
→ Correct answer: B

Question 3. The image of “Sister Thuyên” in the text symbolizes:
A. A country woman who loves life and art despite poverty
B. A professional artist successful in her career
C. A performer in the Central Chèo Troupe
D. A modern-day famous actress
→ Correct answer: A

Question 4. The phrase “the chèo mat of my village” evokes:
A. The luxury of folk art
B. The simple, soulful performance space of the countryside
C. The modernized stage of chèo art
D. The fighting spirit of farmers
→ Correct answer: B

Question 5. According to the author, chèo art is “a distinctive trait of the soul and character of my homeland’s people” because:
A. It is modern and highly integrated
B. It reflects the gentle, compassionate, and optimistic spirit of rural people
C. It is the only form of entertainment in the countryside
D. It exists only in Thái Bình province
→ Correct answer: B

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *