Đọc hiểu, Đọc hiểu THCS

Đáp án đọc hiểu bài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

Tìm hiểu tác giả tác phẩm

Tác giả

  • Văn bản “Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn” là một văn bản lịch sử – truyện ký, được biên soạn, ghi chép dựa trên các sử liệu thời Trần.
  • Nội dung tương đồng và có nguồn gốc từ các bộ sử như:
    • Đại Việt sử kí toàn thư
    • Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
  • Tác giả không phải là một cá nhân cụ thể mà là kết quả của quá trình ghi chép lịch sử, kết hợp yếu tố tự sự, nghị luận và biểu cảm.
Tác phẩm / văn bản
  • Thể loại: Văn bản tự sự – lịch sử (truyện ký, sử truyện).
  • Nội dung chính:
    • Khắc họa cuộc đời, tài năng, nhân cách và tư tưởng giữ nước của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
    • Làm nổi bật:
      • Tài thao lược quân sự
      • Tư tưởng “khoan thư sức dân” – thượng sách giữ nước
      • Lòng trung quân ái quốc, đặt nợ nước lên trên thù nhà
  • Giá trị:
    • Giá trị lịch sử: Phản ánh chân thực cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thời Trần
    • Giá trị tư tưởng: Đề cao sức mạnh nhân dân, đạo trung hiếu, đoàn kết dân tộc
    • Giá trị giáo dục: Bồi dưỡng lòng yêu nước, trách nhiệm công dân

Đọc hiểu bài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

Tháng 6, ngày 24, sao sa.

Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”

Hưng Đạo Vương trả lời:

– Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.

Quốc Tuấn là con An Sinh Vương, lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: “Người này ngày sau có thể giúp nước cứu đời”. Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ. An Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, An Sinh cầm tay Quốc Tuấn giối giăng rằng:

– Con mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.

Quốc Tuấn ghi để điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Đến khi vận nước ở trong tay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông:

– Làm kế ấy tuy được phú quý một thời mà để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay đại vương há chẳng đủ phú quý hay sao? Chúng tôi xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người ta làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi!

Quốc Tuấn cảm phục đển khóc, khen ngợi hai người.

Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương:

– Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?

Hưng Vũ Vương trả lời:

– Dẫu khác họ cũng còn không nên, huống chi là cùng một họ!

Quốc Tuấn ngẫm cho là phải.

Lại một hôm Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa:

– Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.

Quốc Tuấn rút gươm kể tội:

– Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra.

Định giết Quốc Tảng. Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây, ông dặn Hưng Vũ Vương:

– Sau khi ta chết, đậy nắp quân tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng.

Mùa thu, tháng 8, ngày 20, Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn mất ở phủ đệ Vạn Kiếp, được tặng thái sư Thương phụ Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.

Thánh Tông có soạn bài văn bia ở sinh từ của Quốc Tuấn, ví ông với Thượng phụ ngày xưa. Lại vì ông có công lao lớn, gia phong là Thượng quốc công, cho phép ông được quyền phong tước cho người khác, từ Minh tự trở xuống, chỉ có tước Hầu thì phong trước rồi tâu sau. Nhưng Quốc Tuấn chưa bao giờ phong tước cho một người nào. Khi giặc Hồ vào cướp, Quốc Tuấn lệnh cho nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, mà cũng chỉ cho họ làm lang tướng giả chứ không dám cho họ tước lang tướng thực, ông kính cẩn giữ tiết làm tôi như vậy đấy.

Quốc Tuấn lại từng soạn sách để khích lệ tướng sĩ dưới quyền, dẫn chuyện Kỉ Tín chết thay để thoát Hán Cao, Do Vu giơ lưng chịu giáo để cứu Sở Tử. Thế là dạy đạo trung đó.

Khi sắp mất, ông dặn con rằng:

– Ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào, lại phải làm sao cho mau mục.

Quốc Tuấn giữ Lạng Giang, người Nguyên hai lần vào cướp, ông liên tiếp đánh bại chúng, sợ sau này có thể xảy ra tai họa đào mả chăng. Ông lo nghĩ tới việc sau khi mất như thế đấy.

Ông lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước, như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô. Bọn Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự, bởi vì ông có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa vậy. Xem như khi Thánh Tông vờ bảo Quốc Tuấn rằng: “Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi”, Quốc Tuấn trả lời: “Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng”. Vì thế, đời Trùng Hưng lập nên công nghiệp hiếm có. Tiếng vang đến giặc Bắc, chúng thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi tên. Sau khi mất rồi, các châu huyện ở Lạng Giang hễ có tai nạn, dịch bệnh, nhiều người cầu đảo ông. Đến nay, mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp dựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn.

(Trích Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là?

A. Miêu tả

B. Tự sự

C. Biểu cảm

D. Nghị luận

Câu 2. Vì sao Quốc Tuấn khi nghe những lời “giối giăng” của cha thì dấu kín trong lòng, chỉ đến khi vận nước ở trong tay, quyền quân, quyền nước đều do ở mình ông mới đem lời cha dặn nói với gia nô Dã Tượng, Yết Kiêu?

A. Vì muốn thử lòng các gia nô dưới quyền mình.

B. Vì muốn thử lòng mình, và muốn làm vơi đi một chuyện không vui.

C. Vì muốn nghiệm lại chủ kiến của mình và tìm thêm người chia sẻ.

D. Vì muốn vững tin hơn vào điều mình không cho là phải.

Câu 3. Khi vua hỏi về kế đánh quân Nguyên, ngoài kế thanh dã, dùng đoản (binh) chế trường (trận),… không dưới bốn lần, Hưng Đạo Đại Vương đặc biệt nhấn mạnh vào một điều mà ông luôn xem là “thượng sách”. “Thượng sách” đó, nói một cách đầy đủ mà khái quát nhất, là gì?

A. Phải thấy được sức mạnh đoàn kết toàn dân trong cả nước.

B. Vua tôi, tướng sĩ trong cả nước phải đồng tâm hiệp lực với nhau.

C. Vua tôi, tướng sĩ, binh lính phải thực lòng yêu thương nhau.

D. Phải thu phục lòng dân, tập hợp, phát huy bằng được sức mạnh, ý chí đoàn kết toàn dân.

Câu 4. Nhận xét nào sau đây không đúng với Trần Quốc Tuấn:

A. Là một vị tướng anh hùng, đầy tài năng mưu lược.

B. Là một người cha nghiêm khắc giáo dục con cái.

C. Là một vị vua đặt tình nhà trên nợ nước.

D. Là một người cống hiến cho đời sau nhiều tác phẩm quân sự có giá trị.

Câu 5 (0,5 điểm) Xác định biện pháp tu từ trong đoạn: Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó?

Câu 6 (0,5 điểm) Trong văn bản có nói đến binh pháp. Binh pháp là gì? Binh pháp của Hưng Đạo Vương có điểm gì đáng chú ý?

Câu 7 (1,0 điểm) Em có nhận xét gì về nghệ thuật kể chuyện trong văn bản?

Câu 8 (1,0 điểm) Em rút ra được diều gì qua lời trình bày của Trần Quốc Tuấn với vua về kế sách giữ nước?

Hướng dẫn giải chi tiết

Câu 1

B. Tự sự

Câu 2

C. Vì muốn nghiệm lại chủ kiến của mình và tìm thêm người chia sẻ.

Câu 3

D. Phải thu phục lòng dân, tập hợp, phát huy bằng được sức mạnh, ý chí đoàn kết toàn dân.

Câu 4

C. Là một vị vua đặt tình nhà trên nợ nước.

Câu 5

Biện pháp tu từ: so sánh:

– quân nó kéo đến như lửa, như gió

– nó tiến chậm như các tằm ăn

– xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy

– có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được
🡪 Hiệu quả nghệ thuật: hàng loạt so sánh làm cho cách diễn đạt gợi hình ảnh cụ thể, qua đó thấy được tài năng trong cách dùng binh cũng như thấy được tầm nhìn sâu rộng của nhà quân sự Hưng Đạo Vương khi ông đề cao sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân sẽ chống giặc thành công.

Câu 6

– Binh pháp là hệ thống tri thức về những vấn đề lí luận quân sự nói chung và phương pháp tác chiến nói riêng.
– Binh pháp của Hưng Đạo Vương có điểm đáng chú ý là chống giặc phải tuỳ thời mà tạo thế, phải vận dụng linh hoạt, không có một khuôn mẫu nào nhất định.

Câu 7

Nghệ thuật kể chuyện:

– Cách kể về các nhân vật lịch sử không đơn điệu theo trình tự thời gian.

– Nhà viết sử không chỉ kể chuyện một cách phức hợp, với nhiều chiều thời gian, mà còn khéo léo lồng vào câu chuyện những nhận xét sâu sắc nhằm định hướng cho người đọc có những nhận xét, đánh giá thoả đáng.

– Cách kể chuyện trong đoạn trích vừa mạch lạc, khúc chiết vừa giải quyết được những vấn đề then chốt về nhân vật đồng thời vẫn giữ được mạch truyện tiếp nối logic. Chuyện vì thế trở nên sinh động, hấp dẫn. Nhân vật lịch sử cũng vì thế mà được nổi bật chân dung.

Câu 8

– Nội dung lời trình bày của Trần Quốc Tuấn với vua:

+ Nên tuỳ thời thế mà có sách lược phù hợp, binh pháp cần vận dụng linh hoạt, không có khuôn mẫu nhất định.

+ Điều kiện quan trọng nhất để thắng giặc là toàn dân đoàn kết một lòng

+ Do đó phải giảm thuế khoá, bớt hình phạt, không phiền nhiễu dân, chăm lo cho dân có đời sống sung túc,… đó chính là “thượng sách giữ nước”.

– Qua nội dung lời trình bày, người đọc nhận thấy Trần Quốc Tuấn không những là vị tướng tài năng, mưu lược, có lòng trung quân mà còn biết thương dân, trọng dân và biết lo cho dân.

Các câu hỏi mở rộng từ tác phẩm

A. Câu hỏi về nội dung – tư duy – cảm nhận
  1. Phân tích hình tượng Trần Quốc Tuấn qua văn bản để làm rõ những phẩm chất tiêu biểu của ông.
  2. Em hãy làm rõ ý nghĩa tư tưởng của câu nói:
    “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước.”
  3. Qua cách Trần Quốc Tuấn xử sự với lời “giối giăng” của cha, em nhận xét gì về nhân cách và đạo đức của ông?
  4. Việc Trần Quốc Tuấn nghiêm khắc với con trai mình cho thấy ông là người như thế nào?
  5. Theo em, vì sao sau khi mất, Trần Quốc Tuấn vẫn được nhân dân tôn kính, thờ phụng?
B. Câu hỏi liên hệ – vận dụng
  1. Từ tư tưởng giữ nước của Trần Quốc Tuấn, em rút ra bài học gì cho bản thân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay?
  2. Liên hệ tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong văn bản với thực tiễn xã hội hiện nay.
  3. Nếu là người đứng đầu một tập thể, em sẽ học được gì từ cách Trần Quốc Tuấn dùng người và giữ kỉ cương?
  4. Theo em, tinh thần đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân của Trần Quốc Tuấn còn có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống hiện đại?
  5. So sánh hình tượng Trần Quốc Tuấn trong văn bản này với một nhân vật lịch sử hoặc văn học khác mà em đã học.
C. Câu hỏi trắc nghiệm mở rộng

Câu 1. Tư tưởng cốt lõi trong kế sách giữ nước của Trần Quốc Tuấn là gì?
A. Dùng binh lực mạnh
B. Đánh nhanh thắng nhanh
C. Lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh toàn dân
D. Dựa vào địa thế hiểm trở

Đáp án: C

Câu 2. Chi tiết Trần Quốc Tuấn không làm theo lời dặn của cha cho thấy ông là người như thế nào?
A. Thiếu hiếu thảo
B. Cứng nhắc
C. Đặt đại nghĩa lên trên tình riêng
D. Không nghe lời người lớn

Đáp án: C

Câu 3. Biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật trong lời bàn về binh pháp là:
A. Nhân hóa
B. Ẩn dụ, so sánh
C. Hoán dụ
D. Nói quá

Đáp án: B

Câu 4. Văn bản góp phần giáo dục cho người đọc điều gì là quan trọng nhất?
A. Cách đánh giặc
B. Cách làm quan
C. Lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với dân tộc
D. Kiến thức lịch sử

Đáp án: C

Câu 5. Hình tượng Trần Quốc Tuấn trong văn bản mang đậm màu sắc nào?
A. Lãng mạn
B. Bi tráng
C. Sử thi – anh hùng
D. Trữ tình

Đáp án: C

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *