Tìm hiểu tác giả tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tư
- Là nhà văn nổi tiếng đương đại Việt Nam, quê ở Cà Mau.
- Tác phẩm tiêu biểu: Cánh đồng bất tận, Biển người mênh mông, Ngọn đèn không tắt, Đảo…
- Văn phong của bà chân thật, sắc sảo, giàu chất tự sự và cảm xúc nhân văn.
- Tác phẩm thường khai thác thân phận con người, đặc biệt là những con người bé nhỏ, chịu nhiều tổn thương trong cuộc sống.
Tác phẩm: Ai biểu xấu
- Xuất bản trong tập truyện ngắn Đảo (NXB Trẻ, 2014).
- Viết dưới dạng tùy bút – truyện ngắn mang tính suy ngẫm xã hội.
- Tác phẩm đề cập đến vấn nạn phán xét ngoại hình, sự tàn nhẫn của những lời miệt thị và sức nặng của nó đối với người bị chê bai.
- Qua câu chuyện một thí sinh bị chê “xấu” trên sân khấu, tác giả gửi gắm thông điệp về lòng nhân ái, sự tế nhị, tôn trọng phẩm giá con người.
Đọc hiểu bài Ai biểu xấu
AI BIỂU XẤU
(Nguyễn Ngọc Tư)
“…Bạn diễn đạt hơi thiếu biểu cảm. Giọng bạn đuối đi khi đến cao trào. Một điểm nữa là ngoại hình bạn bị hạn chế. Mà đây là thi Tiếng hát truyền hình chứ không phải tiếng hát phát thanh…”. Lời nhận xét này của một thành viên ban giám khảo cuộc thi tiếng hát truyền hình tỉnh trong đêm chung kết. Tôi thấy một chút điếng dại đi thoáng qua trên gương mặt thí sinh, khi giữa sân khấu lấp lóa ánh đèn, trước hàng ngàn người và đông đảo bạn xem truyền hình trực tiếp, anh bị chê… xấu.
Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu. Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên) nhận xét về ngoại hình mình, anh sẽ oán giận cuộc đời, oán giận mẹ cha đã tạo ra anh giữa đời này, làm cho anh tới nông nỗi này, chết đứng trên sân khấu. Mà anh vẫn phải gượng gạo cười, chờ người ta chê xong, cảm ơn, và rời sân khấu trên đôi chân không phải của mình, gương mặt không còn là của mình, di chuyển một thân xác đã khô những máu, thân xác cũng không còn là của anh.
Tôi bỗng nghĩ mình may, phải biết hát hò, có khả năng tôi cũng đi thi. Và cái cô Hà Há Ha mang số báo danh Không Không Có cũng bị trời trồng bởi “ngoại hình hạn chế” hay “tên bạn rất không hợp để làm… ca sĩ”. Bất ngờ? Không, ta vẫn biết vậy khi nhìn vào gương, khi nghĩ về mình, nhưng ta vẫn đau một cách không kiềm chế. Và ánh đèn đêm đó, vẻ mặt vô tư của vị giám khảo đó, biển người đó, bài ca đó… mãi mãi là nỗi ám ảnh không nguôi được. Chỉ muốn làm cát, làm nước, làm giun dế cho rồi…
Sao ngay từ đầu, trong thể lệ cuộc thi, người ta không đưa ra điều kiện “ngoại hình đẹp” như mấy nhà hàng vẫn thường dán thông báo tuyển tiếp viên. Nhất thiết phải dán mấy cái hình mẫu Jude Law, Lương Triều Vỹ hay Mai Phương Thúy để người ta hiểu đẹp là phải như thế này. Bởi mỗi người có một quan niệm khác nhau về cái đẹp, như tôi, lam lũ, đen đúa, bụi bặm… là đẹp, thì bạn nói bạn thích vẻ dịu dàng, thuần khiết, mỏng manh, sang trọng… Người dự thi, sau khi ngó qua tiêu chí và mấy tấm hình mẫu thì dù có giọng đẹp như Lê Dung, Tuấn Ngọc, Mỹ Linh cũng ngó lại cái “ngoại hình hạn chế” mà rút lui không nuối tiếc.
Để không phải trút tâm huyết gan ruột mình hát cả chục bài, vượt qua bốn năm vòng thi; để không nuôi chút vui, chút hy vọng, khát vọng gì khi qua mỗi ải; để không phải xót lòng nghe người đời hỏi, “ê, sao ba má bạn đẻ bạn xấu vậy?”. Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt. Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu.
Cảm giác và nói ra cảm giác là hai chuyện khác nhau, một cái là của riêng mình và cái kia tác động đến người khác. Ai cũng nghĩ như vị giám khảo kia, nhưng không phải ai cũng thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn để thể hiện nó bằng lời, công khai giữa đám đông.
Tôi nhớ có lần, bạn bè hỏi tôi sao mà lúc này quan tâm quá nhiều tới nhan sắc. Tôi cười thầm, ngoài miệng nói vậy thôi, chứ thật ra tôi tin là mình cũng… có chút duyên ngầm. Nhưng tin cũng chẳng làm gì, vì tôi biết với “ngoại hình hạn chế”, chắc chắn tôi không thể thi “tiếng hát truyền hình” (nếu có giọng ca khá), không thể làm nhân viên tiếp thị (nếu chẳng còn viết văn được nữa), và nếu khó khăn hơn nữa, để nuôi đám con ăn học, tôi cũng không tìm được một chân bưng bê trong quán bia.
Ai biểu xấu?!
Nguyễn Ngọc Tư, Đảo ( tập truyện ngắn), NXB Trẻ, 2014
Câu 1(0,5 điểm). Đoạn trích trên được kể theo ngôi kể nào?
Câu 2.(0,5 điểm) Theo đoạn trích, vì sao người kể chuyện không tán thành với nhận xét của một vị giám khảo “… ngoại hình bạn bị hạn chế” ?
Câu 3. ( 1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong phần in đậm của câu văn sau:
Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt.
Câu 4 (1,0 điểm): Phân tích dụng ý, thái độ của nhà văn trong câu sau (dùng từ, sử dụng dấu ngoặc đơn, ngoặc kép):
Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên) nhận xét về ngoại hình mình, anh sẽ oán giận cuộc đời, oán giận mẹ cha đã tạo ra anh giữa đời này, làm cho anh tới nông nỗi này, chết đứng trên sân khấu.
Câu 5 (1,0 điểm) Từ đoạn trích trên, hãy liên hệ với thực tế và cho biết việc phán xét ngoại hình của người khác có thể dẫn đến những hậu quả gì? Viết một đoạn văn khoảng 7 đến 10 câu trả lời câu hỏi đó.
Hướng dẫn giải chi tiết
Câu 1.
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất
Câu 2.
Theo đoạn trích, người kể chuyện không tán thành với nhận xét của một vị giám khảo “… ngoại hình bạn bị hạn chế” vì điều đó khiến thí sinh bị tổn thương
Câu 3.
Biện pháp tu từ ẩn dụ: thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt ẩn dụ cho những lời chê bai, miệt thị từ những kẻ vô cảm.
-Tác dụng:
+ Góp phần làm cho lời văn thêm sinh động, hấp dẫn, gợi hình , gợi cảm
+ Làm tăng hiệu quả diễn đạt cho lời văn, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tác hại của những lời nói chê bai, miệt thị người khác.
+ Qua đó tác giả muốn phê phán những kẻ hay nhìn vào vẻ bề ngoài của người khác để đánh giá về họ, đồng thời khẳng định vẻ bề ngoài không phải là yếu tố quyết định tài năng và nhân cách của con người.
Câu 4.
Dụng ý và thái độ của nhà văn trong việc sử dụng từ ngữ và các dấu câu:
+ Cụm từ “vị giám khảo đến từ thành phố văn minh” có ý mỉa mai, châm biếm. Tác giả ngầm chỉ trích sự thiếu văn minh trong hành vi và lời nói của giám khảo, dù xuất phát từ nơi được coi là văn minh.
+ Hai chữ “âu yếm” được đặt trong ngoặc kép để nhấn mạnh sự mỉa mai. Giám khảo nói một cách “âu yếm” nhưng thực chất là đang làm tổn thương người khác.
+ Cụm từ “quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên” cho thấy sự vô cảm đến tàn nhẫn của vị giám khảo. Ông không hề cảm thấy áy náy khi đã khiến một thí sinh tham gia cuộc thi bị tổn thương.
=>Như vậy qua câu văn trên, tác giả muốn chỉ trích thái độ thiếu tế nhị và sự tàn nhẫn của giám khảo. Dù giám khảo đến từ một nơi được coi là văn minh, hành động của ông lại rất phản cảm và thiếu suy nghĩ.
Câu 5.
Việc phán xét ngoại hình của người khác có thể dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực và sâu sắc.
+ Trước hết, nó có thể gây tổn thương tinh thần nghiêm trọng cho người bị phán xét, làm giảm lòng tự trọng và sự tự tin của họ. Người bị phê phán có thể cảm thấy tự ti, xấu hổ và thậm chí oán giận bản thân và cuộc đời. Điều này có thể dẫn đến các vấn đề tâm lý nghiêm trọng như trầm cảm, lo âu, và trong một số trường hợp, có thể dẫn đến hành vi tự hủy hoại.
+ Ngoài ra, sự phán xét ngoại hình còn tạo ra một môi trường xã hội tiêu cực, khuyến khích việc đánh giá con người dựa trên vẻ bề ngoài hơn là phẩm chất và tài năng bên trong. Nó không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn làm giảm giá trị nhân văn trong cộng đồng.
+ Sự phân biệt và kỳ thị về ngoại hình có thể gây ra sự chia rẽ, tạo ra một văn hóa không khoan dung và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau.
=>Tóm lại, việc phán xét ngoại hình không chỉ làm tổn thương cá nhân mà còn gây hại đến xã hội nói chung, nhấn mạnh sự cần thiết của lòng nhân ái và tôn trọng đối với mọi người.
Câu hỏi mở rộng
Câu hỏi nội dung – tư duy – cảm nhận (5 câu)
Câu 1. Phân tích tác động của lời nhận xét “ngoại hình hạn chế” đối với tâm lý của thí sinh. Chi tiết nào trong văn bản cho thấy điều đó?
Câu 2. Vì sao tác giả cho rằng lời chê ngoại hình giữa “ánh đèn, biển người, truyền hình trực tiếp” lại càng tàn nhẫn hơn?
Câu 3. Phân tích giá trị biểu cảm của hình ảnh: “chết đứng trên sân khấu… đôi chân không phải của mình”.
Câu 4. Nhân vật “tôi” đã tự tưởng tượng mình ở vị trí thí sinh. Điều đó thể hiện thái độ gì?
Câu 5. Tại sao tác giả đề nghị cuộc thi nên công bố tiêu chí “ngoại hình đẹp” ngay từ đầu? Qua đó, tác giả muốn phê phán điều gì?
Câu hỏi liên hệ – vận dụng (5 câu)
Câu 1. Hãy kể một trường hợp ngoài đời hoặc trên mạng xã hội mà bạn thấy ai đó bị tổn thương vì lời chê bai ngoại hình. Từ đó, em rút ra bài học gì?
Câu 2. Theo em, vì sao ngày nay nhiều người trẻ dễ bị ám ảnh bởi ngoại hình?
Câu 3. Liên hệ văn bản với một tác phẩm văn học khác cũng nói về sự tổn thương tinh thần của con người (ví dụ: Cuộc chia tay của những con búp bê, Cô bé bán diêm). Hãy nêu điểm gặp gỡ.
Câu 4. Em có đồng ý với quan điểm: “Cách nói với người khác quan trọng hơn nhiều so với điều ta muốn nói”? Giải thích.
Câu 5. Nếu em là một thành viên ban giám khảo, em sẽ nhận xét thế nào để vừa góp ý vừa không khiến thí sinh tổn thương?
Câu hỏi trắc nghiệm (5 câu)
Câu 1. Ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích là:
A. Ngôi thứ ba
B. Ngôi thứ nhất
C. Ngôi thứ hai
D. Ngôi thứ ba khách quan
→ Đáp án: B
Câu 2. Lí do người kể chuyện không tán thành lời nhận xét của giám khảo là:
A. Vì nhận xét không công bằng
B. Vì ngoại hình không quan trọng
C. Vì lời nhận xét gây tổn thương sâu sắc cho thí sinh
D. Vì khán giả phản đối
→ Đáp án: C
Câu 3. Biện pháp tu từ chính trong câu: “dội vào người thứ nước lấy lên từ dòng sông băng” là:
A. Hoán dụ
B. So sánh
C. Ẩn dụ
D. Nhân hóa
→ Đáp án: C
Câu 4. Tác giả đặt từ “âu yếm” trong ngoặc kép nhằm:
A. Nhấn mạnh sự dịu dàng
B. Miêu tả thái độ chân thành
C. Châm biếm, mỉa mai sự vô cảm của giám khảo
D. Khẳng định đó là lời khen thật
→ Đáp án: C
Câu 5. Câu “Ai biểu xấu?!” thể hiện rõ nhất thái độ nào của tác giả?
A. Đổ lỗi cho thí sinh
B. Chê trách thí sinh
C. Giọng điệu mỉa mai xã hội chỉ coi trọng vẻ ngoài
D. Kêu gọi thi hát phải đẹp
→ Đáp án: C