phân tích

Cảm nhận bài thơ Việt Bắc

Viết bài văn trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ sau:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rững phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

(Trích Việt Bắc – Tổ Hữu)

Chú ý:

*Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tháng 7-1954, Hiệp định Genever về Đông Dương được kí kết. Hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra. Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về về lại thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc.

* Nhà thơ Tố Hữu (1920-2002), tên đầy đủ là Nguyễn kim Thành, là một trong những nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỉ XX. Tố Hữu được biết đến với những tác phẩm thơ ca mang đậm dấu ấn cách mạng và tinh thần dân tộc. Ông là cây bút chủ chốt của thơ ca cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Dàn ý chi tiết

Mở bài

– Giới thiệu được tác giả Tố Hữu, bài thơ Việt Bắc, đoạn thơ và khái quát được nội dung cơ bản của đoạn.

– Nêu xuất sứ đoạn thơ (Trích từ bài thơ Việt Bắc, viết tháng 10/1954), khái quát chủ đề cuộc chia tay giữa trưng ương đảng, Bác Hồ với đồng bào Việt Bắc, trong khổ thơ trên là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp Việt Bắc…

Thân bài

Khổ thơ trên là bức tranh bốn mùa của núi rừng Việt Bắc thật đẹp.

 Luận điểm 1: Bức tranh mùa đông

– “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”: sử dụng bút pháp chấm phá: nổi bật trên nền xanh rộng lớn của núi rừng là màu đỏ của hoa chuối gợi nhiều liên tưởng…

– “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”: hình ảnh tia nắng ánh lên từ con dao gài thắt lưng gợi dáng vẻ khỏe khoắn, lớn lao của người lao động, với tâm thế làm chủ thiên nhiên, cuộc sống.

* Luận điểm 2: Bức tranh mùa xuân

– “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”: màu trắng tinh khôi của hoa mơ tràn ngập không gian núi rừng, thiên nhiên tràn đầy nhựa sống khi xuân về.

– Người lao động hiện lên với vẻ đẹp tài hoa, khéo léo và cần mẫn: “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”, “chuốt từng sợi giang”: hành động chăm chút, tỉ mỉ với từng thành quả lao động của mình.

* Luận điểm 3: Bức tranh mùa hạ

– “Ve kêu rừng phách đổ vàng”: toàn bộ khung cảnh thiên nhiên như đột ngột chuyển sang sắc vàng qua động từ “đổ”

+ Có thể liên tưởng màu vàng hòa quyện với tiếng ve kêu tưng bừng, đầy sức sống …

– “Nhớ cô em gái hái măng một mình”: “cô em gái” – cách gọi thể hiện sự trân trọng, yêu thương của tác giả với con người Việt Bắc, hình ảnh cô gái hái măng một mình thể hiện sự chăm chỉ, chịu thương chịu khó của con người Việt Bắc.

* Luận điểm 4: Bức tranh mùa thu

– “Rừng thu trăng rọi hòa bình”: ánh trăng nhẹ nhàng chiếu sáng núi rừng Việt Bắc, đó là ánh sáng của “hòa bình”, niềm vui và tự do.

– Con người say sưa cất tiếng hát, mộc mạc, chân thành, có tấm lòng thủy chung, nặng ân tình.

* Đánh giá chung:

– Nêu cảm nhận chung về bức tranh tứ bình: Nghệ thuật tứ bình tạo sự cân đối hài hòa và có tác dụng khắc họa toàn diện vẻ đẹp của cảnh vật, bốn bức tranh trên tôn lên giá trị của nhau, không thể tách riêng, chúng là bức tranh tuyệt sắc có sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên.

Kết bài

– Khái quát lại những nét nghệ thuật đặc sắc thơ Tố Hữu: tính dân tộc đậm đà (thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp trong văn học dân gian, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh thơ gần gũi, giọng thơ thiết tha.)

– Đánh giá lại giá trị nội dung bài thơ: là khúc hùng ca và khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.

Bài mẫu tham khảo

Tố Hữu là một trong các tác giả tiêu biểu trưởng thành từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Bài thơ “Việt Bắc” là một trong những bài thơ hay, tiêu biểu của cả thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bài thơ đã tái hiện được quãng thời gian cả dân tộc cùng đồng lòng chống lại đế quốc xâm lược.

“Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.”

Đó là những câu thơ mở đầu bài thơ “Việt Bắc”, là những tình cảm, những chân tình mà nhà thơ Tố Hữu gửi gắm. Nhà thơ đã sử dụng thể thơ Lục bát và lối xưng hô đối đáp ở cặp từ Mình – ta, câu đối đáp giao duyên như lời tâm sự của người ở lại với người cất bước lên đường, người ở lại hỏi người đi, khi về rồi có còn nhớ người ở lại không, thời gian gắn bó như vậy nhắc người đi chớ có quên, người ở lại rất nhớ người ra đi ấy.

“Mình đi, có nhớ những ngày
………
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Đây là đoạn thơ tiếp tục lời của người ở nói với người đi những tâm sự từ tận đáy lòng, về những ngày kháng chiến sát cạnh bên nhau, về tình cảm kháng chiến, về chiến khu, về những con người, những tình cảm của con người trong kháng chiến.

“Ta với mình, mình với ta
…………
Ngòi Thia sông Đáy, suối Lê vơi đầy
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”

Khổ thơ tiếp là lời của người đi nói với người ở, những tình cảm không thể nào quên, đó trở thành những kỉ niệm kháng chiến sẽ luôn in dấu trong tâm hồn dân tộc, đó sẽ là những kỉ niệm không phai mờ trong lịch sử dân tộc. Đó còn là những tình cảm sẻ chia gắn bó ở khổ thơ tiếp:

“Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Nhớ sao lớp học I tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa,…”

Đó là những câu thơ tiếp nối về tình cảm giữa người đi và người ở, người đi về với miền xuôi nhưng vẫn luôn nhớ cái nôi của cách mạng – chiến khu Việt Bắc mà ở đó đồng bào ta đoàn kết, đồng lòng, cùng chống lại các thế lực thù địch bán nước, cướp nước. Ở nơi ấy bộ đội cùng người dân cùng đoàn kết đồng lòng, cái tôi hòa chung vào cái chung của dân tộc. Những tháng ngày kháng chiến cùng có nhau trong cuộc sống, cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm, cùng học tập bên nhau.

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng”

Con người cùng thiên nhiên hòa cùng một mục đích, con người cùng nhau kề vai sát cánh bên nhau để có thể chiến thắng được giặc Pháp, chúng được trang bị nào những vũ khí tư trang hiện đại, chúng ta ngược lại không được nhiều trang thiết bị hiện đại nhưng chúng ta nắm rõ được địa thế, địa hình, có thể lợi dụng kết hợp đánh địch.

“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa
Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái cây đa Tân trào”

Đây là đoạn thơ nói lên chí hướng cũng như quyết tâm của cả dân tộc. Dân tộc ta trước cuộc chiến tranh chống lại thực dân Pháp xâm lược, những con người ngày đêm đã quật cường đứng lên, quyết tâm chiến đấu chống lại thế lực ấy. Bài thơ là khúc ca ân nghĩa, là những hồi tưởng đầy xúc động và ân tình của nhà thơ Tố Hữu về những chặng đường đã qua của dân tộc, của đất nước.

Bài thơ “Việt Bắc” được ra đời nhân sự kiện lịch sử, tháng 10 – 1954, kháng chiến của nhân dân ta chống lại thực dân Pháp đang dần thắng lợi, căn cứ địa cách mạng từ chiến khu Việt Bắc về xuôi, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ nhớ lại những năm kháng chiến gian khó mà hào hùng của dân tộc. Từ thực tại, nhà thơ đã nhớ về quá khứ hào hùng của dân tộc khi anh dũng chiến đấu chống lại quân thù. Đó là những tình cảm cao đẹp, yêu thương, gắn bó sâu nặng nhất với Việt Bắc – quê hương cách mạng, với đất nước, với dân tộc.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *