ÔM TRÒN TRÁI ĐẤT
– Đào Đức Tuấn –
Trái đất là quả bóng xanh
Rừng tràn lá non
Biển đầy ngọc bích.
Trái đất như viên bi trong veo
Lóng la lóng lánh
Ánh sáng muôn màu.
Trái đất tựa một tổ chim
Nơi mọi màu da
Hát bài ca đầm ấm.
Em ước sao trái đất chúng mình
Bốn mùa hoa thắm
Em muốn ôm tròn trái đất trong vòng tay.
(Nguồn: vanvn.vn – Cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam)
Dàn ý chi tiết
Mở đoạn
– Giới thiệu tác phẩm, tác giả (1)
– Cảm nghĩ chung của em (2)
– Nội dung/ chủ đề của bài thơ/ đoạn thơ (3)
Bài thơ “Ôm tròn Trái Đất” của Đào Đức Tuấn đã khơi gợi trong em niềm ngỡ ngàng và xúc động trước vẻ đẹp kì diệu của hành tinh xanh cùng ước mơ giản dị mà cao đẹp về một thế giới hòa bình, chan chứa tình yêu thương.
Thân đoạn
1. Cảm xúc về nội dung bài thơ:
Khổ thơ 1, 2:
(1) Cảm xúc của em + nội dung đoạn thơ:
“Trích thơ”
Đọc hai khổ thơ đầu, em cảm thấy thích thú và trân trọng trước bức tranh lung linh, huyền ảo của Trái Đất – nơi hội tụ vẻ đẹp đa dạng, phong phú của thiên nhiên.
(2) Cảm nhận một số nét đặc sắc về nghệ thuật ® tác dụng:
– Hình ảnh
– Từ ngữ đặc sắc
– Biện pháp tu từ
– Hình ảnh “quả bóng xanh”, “viên bi trong veo” gợi sự gần gũi với trẻ thơ nhưng cũng mở ra cảm nhận về một hành tinh tràn đầy sức sống.
– Từ ngữ “tràn”, “đầy”, “lóng la lóng lánh” nhấn mạnh sự phong phú, giàu có và vẻ rực rỡ của thiên nhiên.
– Biện pháp so sánh và từ láy giúp Trái Đất hiện lên vừa trong trẻo, long lanh, vừa gần gũi mà kì diệu, làm lay động tâm hồn người đọc.
(3) Chốt nội dung:
Qua đó, em cảm nhận được vẻ đẹp rạng ngời, tràn đầy sự sống của Trái Đất – món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng.
Khổ thơ 3, 4
(1) Cảm xúc của em + nội dung đoạn thơ:
“Trích thơ”
Sang khổ thơ sau, em thực sự xúc động khi cảm nhận được ước mơ giản dị nhưng cao đẹp của tác giả về một Trái Đất hòa bình, chan chứa tình thương
(2) Cảm nhận một số nét đặc sắc về nghệ thuật ® tác dụng:
– Hình ảnh
– Từ ngữ đặc sắc
– Biện pháp tu từ
– Hình ảnh “tổ chim” gợi sự đoàn kết, sum vầy, biến Trái Đất thành ngôi nhà chung ấm áp của mọi người.
– Từ ngữ “đầm ấm”, “thắm” làm nổi bật cảm giác hạnh phúc, yên bình, tràn đầy sức sống.
– Điệp từ “Em ước”, “Em muốn” kết hợp với so sánh gợi ra khát vọng cháy bỏng về một thế giới an lành, đồng thời truyền tải cảm xúc thiết tha của tác giả đến người đọc.
(3) Chốt nội dung:
Những vần thơ chân thành đã gieo vào lòng em niềm đồng cảm và khát vọng cùng chung tay gìn giữ hành tinh xanh.
2. Cảm xúc về đặc sắc nghệ thuật + chủ đề bài thơ:
Đánh giá đặc sắc nghệ thuật + chủ đề bài thơ:
– Thể thơ
– Gieo vần, ngắt nhịp
– Giọng thơ
– Từ ngữ, hình ảnh
– Biện pháp tu từ
-> Góp phần thể hiện chủ đề bài thơ
Với thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt, giọng thơ hồn nhiên và giàu cảm xúc, cùng những hình ảnh gần gũi, từ ngữ gợi hình giàu sức gợi và các biện pháp tu từ như so sánh, điệp từ, tác giả đã thể hiện sâu sắc chủ đề tình yêu và ý thức bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung của nhân loại.
3. Cảm xúc về tác giả:
– Nhận xét, đánh giá tài năng, tình cảm của tác giả
Phải là người có tâm hồn tinh tế, tài năng trong nghệ thuật ngôn từ và tình cảm thiết tha với Trái Đất, nhà thơ Đào Đức Tuấn mới viết nên những vần thơ giản dị mà giàu ý nghĩa như vậy.
Kết đoạn
– Khẳng định lại cảm xúc của em về bài thơ
– Liên hệ bản thân
Bài thơ đã giúp em thêm yêu quý, trân trọng hành tinh xanh, đồng thời nuôi dưỡng ý thức bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung, để nơi đây mãi là thế giới bình yên và tươi đẹp của muôn loài.
Bài mẫu tham khảo
“Thơ là nơi cảm xúc cá nhân hòa quyện cùng những khát vọng nhân văn” (Nguyễn Văn Hạnh) và bài thơ “Ôm tròn Trái Đất” của Đào Đức Tuấn chính là minh chứng đẹp đẽ cho nhận định ấy khi khơi gợi trong em niềm ngỡ ngàng, xúc động trước vẻ đẹp kì diệu của hành tinh xanh và khát vọng chan chứa tình yêu thương. Đọc hai khổ thơ đầu, em thấy thích thú trước bức tranh lung linh huyền ảo mà tác giả vẽ nên về Trái Đất: “Trái đất là quả bóng xanh/Rừng tràn lá non/Biển đầy ngọc bích/Trái đất như viên bi trong veo/Lóng la lóng lánh/Ánh sáng muôn màu”. Những hình ảnh ấy gợi ra vẻ gần gũi, trong trẻo mà đầy sức sống của hành tinh xanh. Các từ ngữ “tràn”, “đầy”, “lóng la lóng lánh” khiến bức tranh thiên nhiên hiện lên vừa phong phú, vừa lấp lánh kì diệu. Biện pháp so sánh “quả bóng xanh”, “viên bi trong veo” vừa làm nổi bật vẻ đẹp huyền ảo, vừa gieo vào lòng người đọc sự say mê, trìu mến. Qua đó, em cảm nhận được Trái Đất thật giàu có, rực rỡ và đáng trân trọng vô cùng. Đến khổ thơ ba, bốn, em xúc động khi đồng cảm với ước mơ giản dị mà cao đẹp: “Trái đất tựa một tổ chim/Nơi mọi màu da/Hát bài ca đầm ấm/Em ước sao trái đất chúng mình/Bốn mùa hoa thắm/Em muốn ôm tròn trái đất trong vòng tay”. Hình ảnh “tổ chim” khắc họa Trái Đất như một ngôi nhà chung ấm áp, đoàn kết của nhân loại. Từ ngữ “đầm ấm”, “thắm” nhấn mạnh niềm hạnh phúc, yên bình và tươi rực chan chứa trong ngôi nhà chung ấy. Điệp từ “Em ước”, “Em muốn” vang lên tha thiết như lời khẳng định khát vọng cháy bỏng về một thế giới hòa bình và nhân ái. Những vần thơ giản dị mà chân thành ấy đã gieo vào lòng em niềm tin vào tình yêu thương và ý thức giữ gìn Trái Đất. Với thể thơ tự do, giọng thơ hồn nhiên, từ ngữ giàu sức gợi cùng biện pháp tu từ so sánh và điệp từ, tác giả đã truyền tải sâu sắc chủ đề tình yêu và ý thức bảo vệ hành tinh xanh – ngôi nhà chung của nhân loại. Phải là người có tâm hồn tinh tế và tình cảm thiết tha, nhà thơ Đào Đức Tuấn mới viết nên những vần thơ vừa hồn nhiên vừa sâu lắng như thế. Bài thơ đã giúp em thêm yêu quý, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của Trái Đất và thôi thúc bản thân sống có trách nhiệm để cùng chung tay bảo vệ hành tinh này mãi tươi đẹp, yên bình.