phân tích, Văn mẫu 7

Cảm nhận bài NẮNG HÈ

NẮNG HÈ

– Đào Đức Tuấn –

Cháy lên một góc trời

Biết mùa hè đã đến

 

Niềm vui học trò như nắng ngạt ngào

Đường xa núi sông vẫy gọi

 

Mênh mông đồng lúa nắng xanh

Có bàn tay mẹ nâng cây lúa hát

 

Mùa hè của con giấc mơ nhảy nhót

Mùa hè của mẹ bùn đất dãi dầu.

(Nguồn: vanvn.vn – Cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam)

Dàn ý chi tiết

Mở đoạn

– Giới thiệu tác phẩm, tác giả (1)

– Cảm nghĩ chung của em (2)

– Nội dung/ chủ đề của bài thơ/ đoạn thơ (3)

Bài thơ “Nắng hè” của Đào Đức Tuấn đã khơi gợi trong em niềm xúc động rộn ràng về niềm vui tuổi học trò khi mùa hè đến và sự thầm lặng hy sinh của mẹ nơi đồng quê lam lũ.

Thân đoạn
1. Cảm xúc về nội dung bài thơ:
Khổ thơ 1, 2, 3:

(1) Cảm xúc của em  + nội dung đoạn thơ:

“Trích thơ”

Đọc những khổ thơ đầu, em cảm thấy sự rộn ràng, tưng bừng của mùa hè tuổi thơ cùng tình thương âm thầm của mẹ.

(2)  Cảm nhận một số nét đặc sắc về nghệ thuật ® tác dụng:

– Hình ảnh

– Từ ngữ đặc sắc

– Biện pháp tu từ

– Hình ảnh “Cháy lên một góc trời” gợi sắc nắng hè chói chang, mở ra không khí tưng bừng báo hiệu mùa hè tới.

– Câu thơ “Niềm vui học trò như nắng ngạt ngào” sử dụng so sánh, làm nổi bật niềm vui rực rỡ, lan tỏa, tràn đầy sức sống.

– Từ ngữ “vẫy gọi” nhân hóa cảnh vật, tạo cảm giác thôi thúc, khát vọng khám phá của tuổi trẻ; đồng thời, hình ảnh “Bàn tay mẹ nâng cây lúa hát” chan chứa yêu thương, gợi ra sự lam lũ mà dịu dàng của mẹ.

(3) Chốt nội dung:

Những câu thơ ấy đã đem đến cho em sự ngỡ ngàng, thích thú trước niềm vui mùa hè của con trẻ, đồng thời làm em cảm nhận rõ bóng dáng tảo tần của mẹ nơi cánh đồng quê.

Khổ thơ 4

(1) Cảm xúc của em  + nội dung đoạn thơ:

“Trích thơ”

Đến khổ cuối, giọng thơ lắng lại, khiến em xúc động nghẹn ngào khi nhận ra sự đối lập giữa hai mùa hè

(2)  Cảm nhận một số nét đặc sắc về nghệ thuật ®  tác dụng:

– Hình ảnh

– Từ ngữ đặc sắc

– Biện pháp tu từ

– Hình ảnh “giấc mơ nhảy nhót” giàu tính biểu tượng, tái hiện tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng, bay bổng với bao khát vọng tươi đẹp.

– Trái lại, cụm từ “bùn đất dãi dầu” lại phơi bày sự nhọc nhằn, lam lũ, sự hy sinh lặng thầm mà mẹ gánh chịu.

– Biện pháp đối lập được sử dụng tài tình, làm nổi bật sự khác biệt giữa niềm vui mơ mộng của con và thực tại gian lao của mẹ, từ đó khắc sâu ý nghĩa: hạnh phúc của con được xây bằng mồ hôi và công sức của mẹ.

(3) Chốt nội dung:

Những câu thơ đã để lại trong em nỗi xót xa, thương cảm nhưng cũng tràn đầy biết ơn đối với công lao to lớn, thầm lặng của mẹ.

2. Cảm xúc về đặc sắc nghệ thuật + chủ đề bài thơ:

Đánh giá đặc sắc nghệ thuật + chủ đề bài thơ:

– Thể thơ

– Gieo vần, ngắt nhịp

– Giọng thơ

– Từ ngữ, hình ảnh

– Biện pháp tu từ

-> Góp phần thể hiện chủ đề bài thơ

Với thể thơ tự do, nhịp ngắt linh hoạt, giọng thơ lúc rộn ràng vui tươi, lúc trầm lắng sâu sắc; cùng hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, từ ngữ giản dị mà gợi cảm, biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, đối lập; tác giả đã khắc họa thành công tình mẫu tử thiêng liêng và ca ngợi sự hy sinh thầm lặng của mẹ.

3. Cảm xúc về tác giả:

– Nhận xét, đánh giá tài năng, tình cảm của tác giả

Phải là người có tài năng quan sát tinh tế và trái tim chan chứa yêu thương, nhà thơ Đào Đức Tuấn mới viết nên những vần thơ dung dị mà xúc động đến vậy.

Kết đoạn

– Khẳng định lại cảm xúc của em về bài thơ

– Liên hệ bản thân

Bài thơ Nắng hè đã gieo vào lòng em sự trân trọng và biết ơn vô hạn đối với mẹ, để từ đó em thấy mình phải cố gắng học tập và sống tốt hơn, xứng đáng với tình thương và sự hy sinh cao cả ấy.

Bài mẫu tham khảo

Nguyễn Đình Thi từng khẳng định: “Thơ không phải là tiếng nói của lý trí, mà là tiếng hát của trái tim” , và quả thực, những vần thơ trong Nắng hè của Đào Đức Tuấn đã cất lên tiếng hát trong trẻo, lay động trái tim em về niềm vui rộn ràng của tuổi học trò và sự hy sinh thầm lặng của mẹ. Đọc những khổ thơ đầu, em như nghe thấy nhịp tim mùa hè đang gõ cửa tuổi thơ đầy háo hức: “Cháy lên một góc trời/ Biết mùa hè đã đến/ Niềm vui học trò như nắng ngạt ngào/ Đường xa núi sông vẫy gọi/ Mênh mông đồng lúa nắng xanh/ Có bàn tay mẹ nâng cây lúa hát”. Hình ảnh “Cháy lên một góc trời” gợi ra sắc nắng hè chói chang, báo hiệu khởi đầu rực rỡ. Câu thơ “Niềm vui học trò như nắng ngạt ngào” với biện pháp so sánh đã làm nổi bật niềm vui ấm áp, lan tỏa. Từ ngữ “vẫy gọi” nhân hóa cảnh vật, tạo cảm giác thôi thúc, khát vọng được khám phá của tuổi trẻ. Và hơn cả, hình ảnh “Bàn tay mẹ nâng cây lúa hát” làm sáng bừng tình yêu thương, gợi ra đôi tay chai sạn nâng niu sự sống, cũng như nâng niu hạnh phúc con thơ. Những câu thơ ấy đã khiến em vừa ngỡ ngàng trước niềm vui mùa hè, vừa bâng khuâng khi nhận ra bóng dáng mẹ âm thầm trong lao nhọc. Đến khổ cuối, giọng thơ trầm lắng, đưa em vào một miền xúc động khi nhận ra sự đối lập: “Mùa hè của con giấc mơ nhảy nhót/ Mùa hè của mẹ bùn đất dãi dầu”. Nếu “giấc mơ nhảy nhót” là biểu tượng cho tuổi thơ hồn nhiên, bay bổng, thì “bùn đất dãi dầu” lại hiện lên chân thực, lam lũ, vất vả. Biện pháp đối lập ở đây đã làm bật rõ hai thế giới: niềm vui vô tư của con và hiện thực nhọc nhằn của mẹ, để từ đó khắc sâu thông điệp: hạnh phúc của con được xây đắp từ mồ hôi, công sức của mẹ. Những câu thơ đã để lại trong em niềm thương cảm, biết ơn vô hạn trước tình mẫu tử thiêng liêng. Với thể thơ tự do, nhịp ngắt linh hoạt, giọng thơ lúc rộn ràng vui tươi, lúc trầm lắng sâu sắc; cùng hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, từ ngữ giản dị mà gợi cảm, biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, đối lập; tác giả đã khắc họa thành công tình mẫu tử thiêng liêng và ca ngợi sự hy sinh thầm lặng của mẹ. Phải là người có trái tim chan chứa yêu thương và tài năng quan sát tinh tế, Đào Đức Tuấn mới viết nên những vần thơ dung dị mà lay động lòng người đến vậy. Bài thơ đã giúp em biết trân trọng và biết ơn công lao, tình thương vô bờ bến của mẹ, để từ đó tự nhủ mình phải sống xứng đáng, học tập chăm ngoan hơn, không phụ tình yêu thương lớn lao ấy.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *