phân tích, Văn mẫu 7

Cảm nhận bài Có bao giờ

CÓ BAO GIỜ

_Trương Anh Tú_

Có bao giờ em nghĩ

Về màu xanh của trời

Có bao giờ em nghĩ

Về nghìn trùng xa khơi.

 

Có bao giờ em ngắm

Lớp lớp những lá vàng

Gieo mình về với đất

Cho mùa xuân âm vang.

 

Khi lá rơi, em ơi

dẫu lặng im không nói

những giọt nước mắt vàng

mang trong mình tiếng gọi!

 

Để trời xanh, em ơi

đã bao đời mây trắng

để biển xanh em ơi

sóng ngàn năm vẫn sóng!

 

Có bao giờ em ước

một cánh chim bên trời

có bao giờ em ước

là cánh buồm xa khơi!

(Nguồn: vanvn.vn – Cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam)

Dàn ý chi tiết

Mở đoạn

– Giới thiệu tác phẩm, tác giả (1)

– Cảm nghĩ chung của em (2)

– Nội dung/ chủ đề của bài thơ/ đoạn thơ (3)

Bài thơ “Có bao giờ” của Trương Anh Tú  như lời tự vấn nhẹ nhàng, thủ thỉ, gieo vào lòng người đọc những suy tư sâu lắng về sự sống, sự hy sinh thầm lặng và khát vọng của con người.

Thân đoạn
1. Cảm xúc về nội dung bài thơ:
Khổ thơ 1, 2:

(1) Cảm xúc của em  + nội dung đoạn thơ:

“Trích thơ”

Khi đọc hai khổ thơ đầu, em thấy lòng mình bình yên, tĩnh lặng mà cũng nhiều trăn trở, tự hỏi liệu bản thân đã biết sống chậm lại để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên hay chưa: “Có bao giờ em nghĩ/Về màu xanh của trời…”.

(2)  Cảm nhận một số nét đặc sắc về nghệ thuật ® tác dụng:

– Hình ảnh

– Từ ngữ đặc sắc

– Biện pháp tu từ

– Hình ảnh “màu xanh của trời”, “nghìn trùng xa khơi” gợi sự bao la, rộng lớn của vũ trụ, đánh thức khát khao tìm tòi và chiêm nghiệm.

– Hình ảnh “lớp lớp những lá vàng”, “gieo mình về với đất” vừa gợi nét lãng mạn, vừa khắc họa sự hy sinh thầm lặng, trở thành tiền đề cho mùa xuân hồi sinh.

– Từ “âm vang” gợi ra sự giao thoa giữa cái chết và sự sống, khẳng định quy luật luân hồi bất tận của tự nhiên.

– Biện pháp tu từ điệp ngữ “Có bao giờ em nghĩ/ Có bao giờ em ngắm” tạo giọng thủ thỉ cùng phép nhân hóa “gieo mình về với đất” làm cho chiếc lá như có ý thức hiến dâng → làm nổi bật triết lý sống sâu sắc.

(3) Chốt nội dung:

Hai khổ thơ đầu là lời tự vấn để con người dừng lại, chiêm ngẫm vẻ đẹp của tạo hóa và sự hy sinh thầm lặng trong dòng chảy đời sống.

Khổ thơ 3, 4, 5

(1) Cảm xúc của em  + nội dung đoạn thơ:

“Trích thơ”

Đọc tiếp những khổ thơ sau, em thấm thía và xúc động bởi triết lý về sự tồn tại, sự cống hiến lặng thầm nhưng vĩnh hằng: “những giọt nước mắt vàng/mang trong mình tiếng gọi”.

(2)  Cảm nhận một số nét đặc sắc về nghệ thuật ®  tác dụng:

– Hình ảnh

– Từ ngữ đặc sắc

– Biện pháp tu từ

– Hình ảnh ẩn dụ “những giọt nước mắt vàng” lãng mạn hóa sự hy sinh, biến nó thành vẻ đẹp thiêng liêng của sự cống hiến.

– Hình ảnh “mây trắng”, “sóng” tượng trưng cho sự tồn tại bền bỉ, vĩnh hằng của đất trời; còn “cánh chim”, “cánh buồm xa khơi” gợi khát vọng tự do, dám vươn ra khám phá chân trời mới.

–  Những từ ngữ ‘tiếng gọi’, ‘đã bao đời’, ‘ngàn năm’, cùng cách xưng hô tha thiết ‘em ơi’ và điệp ngữ ‘Để trời xanh… để biển xanh’ càng làm giọng thơ thêm gần gũi, khẳng định quy luật: mỗi sự tồn tại đều hiện hữu để tôn vinh và làm trọn vẹn vẻ đẹp của sự tồn tại khác.

(3) Chốt nội dung:

Những khổ thơ đã mở ra cho em sự thức tỉnh: sự sống là kết quả của bao hy sinh âm thầm, đồng thời khơi dậy trong lòng khát vọng sống đẹp, sống có ích và nuôi dưỡng ước mơ.

2. Cảm xúc về đặc sắc nghệ thuật + chủ đề bài thơ:

Đánh giá đặc sắc nghệ thuật + chủ đề bài thơ:

– Thể thơ

– Gieo vần, ngắt nhịp

– Giọng thơ

– Từ ngữ, hình ảnh

– Biện pháp tu từ

-> Góp phần thể hiện chủ đề bài thơ

Với thể thơ năm chữ, nhịp 2/3, 3/2, giọng thơ thủ thỉ, nhẹ nhàng; kết hợp những hình ảnh giàu sức gợi, từ ngữ tinh tế và biện pháp tu từ đặc sắc (điệp ngữ, nhân hóa, ẩn dụ), tác giả đã khắc họa thành công chủ đề: cuộc sống đẹp đẽ nhờ sự hy sinh lặng thầm, và con người cần biết sống chậm lại để trân trọng từng khoảnh khắc, nuôi dưỡng khát vọng vươn xa.

3. Cảm xúc về tác giả:

– Nhận xét, đánh giá tài năng, tình cảm của tác giả

Phải là một tâm hồn nhạy cảm, giàu yêu thương và một tài năng tinh tế, Trương Anh Tú mới có thể viết nên những vần thơ vừa dung dị vừa sâu sắc, gieo vào lòng người đọc bao chiêm nghiệm quý giá.

Kết đoạn

– Khẳng định lại cảm xúc của em về bài thơ

– Liên hệ bản thân

Bài thơ đã đem lại cho em những rung động chân thành và lời nhắc nhở ý nghĩa: hãy biết trân trọng sự hy sinh thầm lặng, sống có trách nhiệm và nuôi dưỡng ước mơ để làm đẹp thêm cho cuộc đời.

Bài mẫu tham khảo

“Thơ ca là tấm gương soi chiếu vẻ đẹp đời sống” (Nguyễn Đình Thi), và bài thơ “Có bao giờ” của Trương Anh Tú chính là tấm gương trong trẻo phản chiếu những suy tư sâu lắng về sự sống và sự hy sinh thầm lặng của vạn vật. Đọc hai khổ thơ đầu, em thấy lòng mình lắng lại trong sự bình yên mà cũng dấy lên bao trăn trở, tự hỏi liệu mình đã biết sống chậm để cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên hay chưa: “Có bao giờ em nghĩ/Về màu xanh của trời/Có bao giờ em nghĩ/Về nghìn trùng xa khơi”. Hình ảnh “màu xanh của trời”, “nghìn trùng xa khơi” mở ra không gian bao la, khơi gợi khát vọng khám phá. Những câu “lớp lớp những lá vàng/gieo mình về với đất” lại gợi vẻ lãng mạn và bi tráng, biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng để mùa xuân hồi sinh. Từ ngữ “âm vang” khiến em hình dung ra âm thanh của sự sống đang trỗi dậy, tạo nên sự giao thoa giữa cái chết và sự hồi sinh. Điệp ngữ “Có bao giờ em nghĩ/ngắm” cùng phép nhân hóa “gieo mình về với đất” tạo giọng thơ thủ thỉ, đồng thời nhấn mạnh triết lý sống: cái đẹp được nuôi dưỡng từ sự hy sinh. Hai khổ thơ đầu đã giúp em nhận ra giá trị sâu xa của việc biết dừng lại để ngẫm suy vẻ đẹp cuộc đời. Sang những khổ tiếp theo, em thấy lòng mình thấm thía trước triết lý về sự tồn tại: “những giọt nước mắt vàng/mang trong mình tiếng gọi”. Hình ảnh ấy không nhuốm màu bi thương mà lãng mạn hóa sự cống hiến, biến hy sinh thành vẻ đẹp bất tử. Hình ảnh “mây trắng”, “sóng” gợi sự trường tồn của trời biển, trong khi “cánh chim”, “cánh buồm xa khơi” tượng trưng cho khát vọng tự do và khám phá. Những từ ngữ “tiếng gọi”, “đã bao đời”, “ngàn năm”, cùng cách xưng hô tha thiết “em ơi” và điệp ngữ “Để trời xanh… để biển xanh” càng làm giọng thơ thêm gần gũi, khẳng định mỗi sự vật tồn tại để soi sáng và làm nên giá trị cho sự vật khác. Từ những vần thơ ấy, em hiểu rằng sự sống luôn được bồi đắp bởi những hy sinh thầm lặng, và con người cần nuôi dưỡng khát vọng để sống có ích. Với thể thơ năm chữ, nhịp 2/3, 3/2, giọng thơ thủ thỉ nhẹ nhàng, kết hợp với những hình ảnh giàu sức gợi và các biện pháp tu từ đặc sắc, tác giả đã khắc họa trọn vẹn chủ đề: cuộc sống đẹp nhờ hy sinh và cần được cảm nhận bằng trái tim. Phải là một tâm hồn tinh tế, giàu yêu thương và một tài năng nhạy cảm, Trương Anh Tú mới viết được những vần thơ lay động lòng người đến thế. Bài thơ đã để lại trong em niềm xúc động sâu xa, nhắc nhở em hãy biết trân trọng những hy sinh âm thầm và sống có ước mơ để góp phần làm đẹp thêm cho cuộc đời.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *