BẰNG LĂNG VÀ PHƯỢNG VĨ
_Nguyễn Hữu Thông_
Phượng vĩ đung đưa ngọn
Rừng rực màu huênh hoang:
– Ta có bùng hoa lửa
Hè mới về nắng chang
Bằng lăng rung rinh lá
Lìm lịm sắc khoe khoang:
– Khi ta phơi cánh tím
Là báo hiệu Hè sang
Bỗng tiếng ve râm ran
Dưới tán cây gió lặng:
– Hè về rưng rức nắng
Các bạn mới có hoa
Bằng lăng và Phượng vĩ
Bây giờ mới ngộ ra
Ngượng ngùng nghiêng vạt nắng
Rủ nhau cùng nở hoa.
Dàn ý chi tiết
Mở đoạn
– Giới thiệu tác phẩm, tác giả (1)
– Cảm nghĩ chung của em (2)
– Nội dung/ chủ đề của bài thơ/ đoạn thơ (3)
Bài thơ “Bằng lăng và phượng vĩ” của nhà thơ Nguyễn Hữu Thông đã gieo vào lòng em niềm xúc động sâu xa về vẻ đẹp của mùa hè tuổi học trò và bài học nhẹ nhàng về sự khiêm nhường, thấu hiểu và sẻ chia.
Thân đoạn
1. Cảm xúc về nội dung bài thơ:
Khổ thơ 1, 2:
(1) Cảm xúc của em + nội dung đoạn thơ:
“Trích thơ”
Đọc những khổ thơ đầu, em cảm thấy thích thú như được chứng kiến một cuộc tranh luận ngộ nghĩnh mà đầy cá tính giữa hai loài hoa gắn liền với mùa hè – hoa phượng và hoa bằng lăng.
(2) Cảm nhận một số nét đặc sắc về nghệ thuật ® tác dụng:
– Hình ảnh
– Từ ngữ đặc sắc
– Biện pháp tu từ
– Hình ảnh phượng “đung đưa ngọn”, “bùng hoa lửa”, “rừng rực màu huênh hoang” đã khắc họa vẻ đẹp rực cháy, kiêu hãnh như muốn khẳng định: sắc đỏ nồng nàn của phượng mới là biểu tượng đích thực của hè sang.
– Trong khi đó, bằng lăng lại dịu dàng, kín đáo mà không kém phần tự tin với những vệt tím “rung rinh lá”, “lìm lịm sắc khoe khoang”, như một cô gái nhẹ nhàng góp phần điểm tô cho sắc trời mùa hạ.
– Các từ ngữ như “huênh hoang”, “rừng rực”, “lìm lịm”, “phơi cánh tím” mang sức gợi hình và gợi cảm mạnh mẽ, giúp em hình dung rõ nét tính cách và sắc thái riêng của từng loài hoa.
– Đặc biệt, nghệ thuật nhân hóa được vận dụng tài tình qua lời đối thoại của hai loài hoa, khiến chúng trở thành những nhân vật có tâm trạng, có suy nghĩ, có cái tôi và cả chút ngây thơ, tự mãn rất đáng yêu.
(3) Chốt nội dung:
– Những dòng thơ ấy không chỉ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên rực rỡ mà còn làm hiện lên một bức chân dung tâm hồn tuổi học trò: vừa nồng nhiệt, vừa hồn nhiên, vừa muốn thể hiện mình lại vừa cần được yêu thương.
Khổ thơ 3, 4
(1) Cảm xúc của em + nội dung đoạn thơ:
“Trích thơ”
Thế nhưng sâu lắng và đáng nhớ nhất lại là sự xuất hiện bất ngờ của tiếng ve – “râm ran” giữa “tán cây gió lặng”, như một lời nhắc nhở âm thầm mà đầy ý nghĩa
(2) Cảm nhận một số nét đặc sắc về nghệ thuật ® tác dụng:
– Hình ảnh
– Từ ngữ đặc sắc
– Biện pháp tu từ
– Hình ảnh “Hè về rưng rức nắng” không chỉ gợi lên cái nắng gay gắt đặc trưng mà còn ẩn chứa một thông điệp tinh tế: chính ánh nắng ấy – điều kiện khách quan – mới là yếu tố giúp hoa nở rộ.
– Những từ “ngộ ra”, “ngượng ngùng”, “rủ nhau” cho thấy rõ sự thay đổi tâm lý ở bằng lăng và phượng vĩ – từ chỗ tự phụ, so đo sắc màu đến lúc nhận lỗi, biết trân trọng sự đồng hành.
– Biện pháp nhân hóa qua hình ảnh “bằng lăng và phượng vĩ ngượng ngùng nghiêng vạt nắng, rủ nhau cùng nở hoa” đã khiến hai loài hoa trở nên gần gũi như những người bạn biết nhận sai và cùng nhau hòa hợp.
(3) Chốt nội dung:
Những dòng thơ cuối đã khơi gợi trong em niềm xúc động sâu sắc về bài học làm người: vẻ đẹp không đến từ sự ganh đua mà từ lòng biết ơn và tinh thần sẻ chia.
2. Cảm xúc về đặc sắc nghệ thuật + chủ đề bài thơ:
Đánh giá đặc sắc nghệ thuật + chủ đề bài thơ:
– Thể thơ
– Gieo vần, ngắt nhịp
– Giọng thơ
– Từ ngữ, hình ảnh
– Biện pháp tu từ
-> Góp phần thể hiện chủ đề bài thơ
– Với thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp 2/3, giọng thơ linh hoạt từ tự mãn đến tỉnh ngộ, cùng hình ảnh và từ ngữ giàu nhạc tính, bài thơ đã truyền tải một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc chủ đề về sự biết ơn, khiêm tốn và sống hòa hợp trong đời.
3. Cảm xúc về tác giả:
– Nhận xét, đánh giá tài năng, tình cảm của tác giả
– Phải là người có tình yêu thiên nhiên sâu sắc và một tâm hồn tinh tế, nhà thơ Nguyễn Hữu Thông mới có thể kể một “câu chuyện mùa hè” dung dị mà thấm đẫm ý nghĩa nhân văn như thế.
Kết đoạn
– Khẳng định lại cảm xúc của em về bài thơ
– Liên hệ bản thân
– Bài thơ đã giúp em nhận ra rằng: vẻ đẹp thật sự không chỉ đến từ bản thân mỗi người, mà còn đến từ sự cộng hưởng, từ sự đồng hành thầm lặng của thiên nhiên, cuộc đời và cả những người xung quanh.
Bài mẫu tham khảo
“Thơ là nơi cảm xúc cá nhân hòa quyện cùng những khát vọng nhân văn.” (Nguyễn Văn Hạnh). Điều đó được thể hiện một cách sâu sắc trong bài thơ “Bằng lăng và phượng vĩ” của nhà thơ Nguyễn Hữu Thông – một tác phẩm gợi cho em nhiều xúc cảm lắng đọng về vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên mùa hè và bài học thấm thía về sự khiêm tốn, sẻ chia và sống hòa hợp. Đọc những dòng thơ đầu tiên, em cảm thấy thích thú như đang lắng nghe một cuộc trò chuyện ngộ nghĩnh giữa hai loài hoa học trò quen thuộc: “Phượng vĩ đung đưa ngọn/rừng rực màu huênh hoang/Ta có bùng hoa lửa/hè mới về nắng chang”. Phượng vĩ hiện lên rực rỡ, mạnh mẽ mang dáng vẻ của một chàng trai trẻ đang hăng hái khẳng định vị trí của mình. Trái lại, bằng lăng dịu dàng, e ấp trong dáng như một thiếu nữ kín đáo mà vẫn đầy kiêu hãnh: “Bằng lăng rung rinh lá/lìm lịm sắc khoe khoang/Khi ta phơi cánh tím/là báo hiệu hè sang”. Các từ ngữ “huênh hoang”, “rừng rực”, “lìm lịm”, “phơi” được chọn lọc khéo léo, giàu sắc thái biểu cảm, khắc họa rõ nét cá tính của từng loài hoa. Tác giả đã tài tình sử dụng biện pháp nhân hóa, biến phượng và bằng lăng thành những “người bạn nhỏ” biết tự hào, biết ganh đua, khiến bức tranh thiên nhiên trở nên sống động, gần gũi. Qua đó, em thấy hiện lên một mùa hè không chỉ rực rỡ sắc màu, mà còn chan chứa những tâm hồn tuổi học trò đang khát khao thể hiện bản thân. Tuy nhiên, điều khiến em xúc động nhất lại là sự xuất hiện bất ngờ của tiếng ve như một lời nhắc nhở âm thầm mà sâu xa: “Bỗng tiếng ve râm ran/dưới tán cây gió lặng/Hè về rưng rức nắng/các bạn mới có hoa/ Bằng lăng và Phượng vĩ/bây giờ mới ngộ ra/ngượng ngùng nghiêng vạt nắng/rủ nhau cùng nở hoa”. Những từ “ngộ ra”, “ngượng ngùng”, “rủ nhau” cho thấy sự thay đổi tâm lý ở hai loài hoa – từ tự phụ đến thấu hiểu, từ ganh đua đến sẻ chia. Biện pháp nhân hóa khiến loài hoa trở nên giống con người, biết nhận lỗi và hòa hợp cùng nhau. Những vần thơ cuối đã để lại trong em một bài học lắng sâu: vẻ đẹp chỉ thật sự trọn vẹn khi biết sống khiêm tốn, biết tri ân và đồng hành. Với thể thơ năm chữ, nhịp thơ 2/3 mềm mại, giọng điệu hồn nhiên chuyển dần sang sâu lắng, kết hợp hình ảnh tươi sáng và ngôn ngữ giàu cảm xúc, bài thơ đã truyền tải tinh tế thông điệp sống đẹp giữa đời. Phải là người có tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên và thấu hiểu tuổi học trò, nhà thơ Nguyễn Hữu Thông mới có thể viết nên những câu thơ nhẹ nhàng mà thấm thía đến vậy. Bài thơ như một nốt nhạc dịu êm giữa mùa hạ rực rỡ, giúp em hiểu rằng: đừng chỉ nở rộ cho riêng mình, mà hãy biết “rủ nhau cùng nở hoa” dưới vạt nắng yêu thương của cuộc đời.